1. Khái quát chung về việc tạm giữ trong tố tụng hình sự

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách li họ với xã hội trong một thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với tội phạm. Mục đích tạm giữ người: Nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội trốn tránh pháp luật; cản trở hoạt động điều tra; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, bước đầu xác định tính chất của hành vi phạm tội. Đối tượng bị áp dụng: Tại khoản 1 Điều 117 BLTTHS năm 2015 có quy định cụ thể như sau:
Điều 117. Tạm giữ
1. Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

2. Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ

Những người có quyền ra lệnh tạm giữ được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015. Bao gồm những người sau đây: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn  trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Thủ tục tạm giữ: BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể thủ tục tạm giữ, việc tạm giữ phải có lệnh tạm giữ của người có thẩm quyền. Pháp luật cũng quy định chặt chẽ việc phải ghi rõ họ và tên, địa chỉ cụ thể của người bị tạm giữ, lý do vì sao tạm giữ họ, thời gian hết hạn tạm giữ và lệnh tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ một bản. Nếu việc tạm giữ không có lệnh tạm giữ của người có thẩm quyền, người bị tạm giữ có quyền yêu cầu trả tự do cho họ.

3. Thời hạn tạm giữ

Theo quy định của luật TTHS về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi được thể hiện tại Điều 118 BLTTHS năm 2015 như sau:
Điều 118. Thời hạn tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm về tạm giữ người theo thủ tục TTHS như sau: Tạm giữ người theo thủ tục TTHS là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra;  để xác minh tội phạm và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ.

4. Đặc điểm tâm lý của người thực hiện hành vi phạm tội dưới 18 tuổi

Việc tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi là không thể thiếu được đối với cơ quan và người tiến hành tố tụng hình sự.Lứa tuổi này có thể phân chia thành 2 nhóm cơ bản sau:

4.1 Nhóm thứ nhất, người đủ 14 tuổi tròn đến dưới 16 tuổi

Các em vừa vượt qua giai đoạn trẻ con, sống phụ thuộc vào gia đình, nhưng có sự phát triển mạnh mẽ về tính cách. Ở lứa tuổi này nhân cách của các em có sự phát triển mạnh mẽ, các quan niệm về cuộc sống rõ ràng hơn và các quan hệ xã hội bước đầu được mở rộng. Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là học tập, tuy nhiên cũng cần tránh tạo gánh nặng trí tuệ và tránh thúc ép các em học quá sức, cả về văn hóa, thể thao, âm nhạc, hội họa…
Mặc khác, trẻ vẫn có những khủng hoảng tâm lý đi kèm với những biến đổi mạnh mẽ về sinh lý. Đối với trẻ em gái, nếu không được chuẩn bị chu đáo về tâm lý cho lần thấy kinh nguyệt đầu tiên các em dễ bị những mặc cảm  nặng nề, ở trẻ em trai sự phát triển tâm lý giới tính cũng chuyển sang thời kỳ mới. Nếu các em bị những tác động xấu của video đen, phim ảnh đồi trụy... thì rất dễ có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo đức.

4.2 Nhóm thứ hai, người từ 16 tuổi tròn đến dưới 18 tuổi

Đang ở giai đoạn sắp bước vào tuổi người lớn, nhận thức xã hội khá hơn nhóm thứ nhất nhưng vẫn chưa tách khỏi gia đình, vẫn phụ thuộc vào kinh tế từ gia đình. Ở giai đoạn này các em có những thay đổi về tâm lý cũng như biến đổi mạnh mẽ về thể chất, xuất hiện nhiều cung bậc cảm xúc trái ngược. Chính sự thay đổi mạnh mẽ về cảm xúc dẫn đến việc nhiều em có những hành động bộc phát, những hành vi không kiềm chế được, nhiều khi chỉ là mâu thuẫn nhỏ cũng dẫn đến xô xát và gây ra những hậu quả đáng tiếc.
Từ những phân tích trên cho thấy, người dưới 18 tuổi có một số đặc điểm cơ bản như sau:
+ Có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất và tinh thần, sự biến đổi sâu sắc  về đời sống tâm sinh lý. Các em có xu hướng muốn độc lập trong nhiều lĩnh vực, không muốn bị gò ép theo một khuôn mẫu, không nghe theo sự sắp xếp, sắp đặt, chỉ bảo quá cụ thể từ cha mẹ, ông bà hay thầy cô. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với các em trong quá trình hình thành nhân cách, giúp các em phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, nếu quá trình trưởng thành đó có sự quan sát, chỉ bảo, động viên, giúp đỡ của những người xung quanh thì các em sẽ phát triển theo hướng tích cực và hình thành nhân cách tốt, ngược lại nếu nó phát triển theo hướng thái quá thì dễ dẫn đến hình thành những nhân cách sai lệch. Vì vậy, qua nghiên cứu đặc điểm này sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và gia đình, nhà trường nói chung nắm bắt được đặc điểm, tâm sinh lý lứa tuổi của các em từ đó có cách thức, biện pháp phù hợp trong việc quản lý, giáo dục các em nhằm ngăn ngừa tình trạng các em vi phạm pháp luật.
+ Dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài. Tính cách của các em thường phát triển theo khuynh hướng thích chứng tỏ mình đã là người lớn và mong muốn người xung quanh thừa nhận. Do đó các em thường có những hành động mất kiểm soát, đôi lúc hùa theo bạn bè tụ tập, ăn chơi, rồi dẫn đến bỏ học, nghiện hút hay vi phạm pháp luật… Một số em do tác động từ những môi trường bên ngoài gia đình, tiếp cận những thói hư tật xấu, cũng như ảnh hưởng bởi những suy nghĩ lệch chuẫn mà dần dần đánh mất bản thân và hành động theo nhu cầu, sở thích hoặc đôi khi là hành động theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của một số đối tượng xấu dẫn đến hành vi phạm tội.
+ Nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là giai đoạn các em còn thiếu kinh nghiệm sống, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế, đôi khi hành động theo cảm tính hoặc đua đòi theo bạn bè. Chẳng hạn, khi đi xe đạp thì dăng thành hàng ba, hàng tư trên đường phố, gây cản trở giao thông; đi xe máy thì đèo ba, đèo bốn, phóng nhanh, vượt ẩu gây nguy hiểm cho chính các em và đặc biệt là cho những người tham gia giao thông khác. Mặt khác, trong nhiều trường hợp người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại không biết rằng mình phạm tội, không thấy được hết tính nguy hiểm đối với xã hội của hành vi đó mà lại cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự vệ hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Chính vì vậy, ý thức về các chuẩn mực xã hội nói chung và các chuẩn mực pháp luật nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của các em. Nó giúp các em phát triển nhân cách một cách đúng đắn và trở thành công dân tốt cho xã hội. Khi các em có ý thức pháp luật đúng đắn thì đây chính là biểu hiện của cái “siêu tôi”, là sự hạn chế, ngăn ngừa những nhu cầu, hành vi mang tính vô thức, những khẳng định của nhu cầu độc lập không hợp lý của các em.
+ Luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá cái mới. Các em muốn tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm sống, các kiến thức, tri thức từ những người khác. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì nhu cầu tìm hiểu của các em không chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình, nhà trường mà các em còn học hỏi, tiếp thu từ nhiều nguồn thông tin trên các mạng viễn thông của nhiều nước khác trên thế giới. Việc tiếp thu, học hỏi cái mới sẽ giúp các em có nhận thức, hiểu biết hơn. Đây là điều hết sức quan trọng giúp các em phát triển nhân cách của mình. Tuy nhiên, các em không chỉ có nhu cầu khám phá cái mới mà còn tìm tòi, thử nghiệm cái mới, trong đó có cả những cái thiếu lành mạnh, trái với các chuẩn mực xã hội. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em. Các em có xu hướng tìm kiếm, khám phá những cái mới lạ hay bắt chước nên rất dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực.
Như vậy, qua nghiên cứu những đặc điểm nổi bật của người dưới 18 tuổi để có cơ sở nền tảng đánh giá quá trình hình thành nhân cách của các em. Đồng thời qua đó giúp gia đình, nhà trường và xã hội chủ động cùng nhau phối hợp trong việc giáo dục, rèn luyện cũng như quản lý, răn đe các em phù hợp với đặc điểm lứa tuổi cũng như nắm bắt được những biến đổi tâm lý của các em để có biện pháp theo dõi, giám sát phù hợp.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê