- 1. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp là gì?
- 2. Mức trích lập lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân từ thu nhập tính thuế là bao nhiêu?
- 3. Có thể điều chuyển nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân từ công ty mẹ xuống công ty con được không?
- 4. Việc điều chuyển nguồn quỹ khoa học và công nghệ giữa công ty mẹ và công ty con được áp dụng với trường hợp nào?
- 5. Một số lưu ý về việc trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ năm 2024
1. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp là gì?
2. Mức trích lập lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân từ thu nhập tính thuế là bao nhiêu?
Tại Điều 9 Nghị định 95/2014/NĐ-CP quy định về trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp như sau:
- Doanh nghiệp nhà nước hàng năm phải trích từ 3% đến 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp ngoài nhà nước được quyền trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp một tỷ lệ hợp lý, tối đa 10% để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp.
- Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để đầu tư tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ cho doanh nghiệp và cho ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.
Như vậy đối với quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân thì được trích từ thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp một tỷ lệ hợp lý, nhưng tối đa sẽ không quá 10%.
3. Có thể điều chuyển nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân từ công ty mẹ xuống công ty con được không?
Về việc điều chuyển quỹ được quy định tại khoản 2, 3, khoản 4 Điều 11 Nghị định 95/2014/NĐ-CP như sau:
- Doanh nghiệp có thể điều chuyển nguồn giữa các quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo các hình thức sau:
+ Giữa tổng công ty với các doanh nghiệp thành viên và ngược lại;
+ Giữa công ty mẹ với công ty con và ngược lại.
- Việc điều chuyển và tỷ lệ điều chuyển nguồn giữa các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ với các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp thành viên, công ty con và ngược lại do chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên hoặc tổng giám đốc, giám đốc (người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) quyết định trên cơ sở tỷ lệ trích Quỹ theo quy định tại điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ, nhu cầu đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ tại các doanh nghiệp thành viên và nhu cầu, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ của toàn hệ thống.
- Các doanh nghiệp có sự điều chuyển nguồn giữa các Quỹ theo các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều này phải báo cáo tình hình nhận điều chuyển và sử dụng số tiền Quỹ được điều chuyển với cơ quan thuế trực tiếp quản lý đơn vị, Sở Tài chính và Sở Khoa học và Công nghệ nơi đăng ký kinh doanh.
Như vậy nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp tư nhân có thể được điều chuyển từ công ty mẹ xuống công ty con.
Khi thực hiện điều chuyển phải báo cáo tình hình nhận điều chuyển và sử dụng số tiền Quỹ được điều chuyển với cơ quan thuế trực tiếp quản lý đơn vị, Sở Tài chính và Sở Khoa học và Công nghệ nơi đăng ký kinh doanh.
4. Việc điều chuyển nguồn quỹ khoa học và công nghệ giữa công ty mẹ và công ty con được áp dụng với trường hợp nào?
Về trường hợp được điều chuyển nguồn quỹ khoa học và công nghệ giữa công ty mẹ và công ty con được quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC như sau:
- Điều chuyển từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ xuống Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên; điều chuyển từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các công ty con, doanh nghiệp thành viên về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ.
Việc điều chuyển và tỷ lệ điều chuyển nguồn giữa các Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổng công ty, công ty mẹ với các Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các công ty con, doanh nghiệp thành viên và ngược lại do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc, Giám đốc (người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) quyết định trên cơ sở tỷ lệ trích Quỹ, nhu cầu đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ tại các công ty con, doanh nghiệp thành viên và nhu cầu, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ của toàn hệ thống.
Việc điều chuyển Quỹ quy định tại Khoản này chỉ áp dụng đối với các công ty con hoặc doanh nghiệp thành viên mà công ty mẹ sở hữu 100% vốn.
Việc điều chuyển Quỹ quy định tại Khoản này không áp dụng đối với các trường hợp sau:
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài điều chuyển cho công ty mẹ ở nước ngoài;
- Công ty mẹ ở Việt Nam điều chuyển cho công ty con ở nước ngoài.
Như vậy việc điều chuyển quỹ chỉ áp dụng đối với các công ty con mà công ty mẹ sở hữu 100% vốn.
5. Một số lưu ý về việc trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ năm 2024
Căn cứ Điều 17 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định một số lưu ý khi trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ như sau:
- Trong thời hạn 05 năm, kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế thu nhập doanh nghiệp đó. Trong đó:
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để tính số thuế thu hồi là thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong thời gian trích lập quỹ.
+ Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ không sử dụng hết là lãi suất trái phiếu kho bạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời điểm thu hồi và thời gian tính lãi là hai năm.
+ Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ sử dụng sai mục đích là lãi phạt chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 và thời gian tính lãi là khoảng thời gian kể từ khi trích lập quỹ đến khi thu hồi.
- Doanh nghiệp không được hạch toán các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.
- Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.
>>> Xem thêm: Chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Bộ