- 1. Mượn điện thoại người quen lấy ảnh nóng tống tiền thì bị truy cứu về tội gì?
- 1.1. Đối với hành vi yêu cầu chuyển tiền
- 1.2. Đối với hành vi đe dọa sử dụng ảnh nóng để đăng tải lên trang mạng xã hội cho mọi người biết
- 1.3. Đối với hành vi phát tán ảnh nóng của người khác lên các trang mạng xã hội
- 2. Sử dụng ảnh nóng của người khác để tống tiền thì bị xử lý như thế nào?
- 2.1. Bị xử phạt vi phạm hành chính
- 2.2. Bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Mượn điện thoại người quen lấy ảnh nóng tống tiền thì bị truy cứu về tội gì?
Về hành vi mượn điện thoại lấy ảnh nóng để tống tiền thì để xác định hành vi này có thể cấu thành tội danh nào thì cần phải xem xét đến các yếu tố cụ thể như sau:
1.1. Đối với hành vi yêu cầu chuyển tiền
Nếu người đang giữ ảnh nóng yêu cầu chủ nhân bức ảnh chuyển một số tiền cụ thể thì mới chấm dứt việc phát tàn những tầm hình nhạy cảm đó thì có nghĩa là người này đã sử dụng những tấm hình đó để uy hiếp tinh thần của bạn nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền mà người này yêu cầu. Trường hợp này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội Tội cưỡng đoạt tài sản.
Bởi lẽ, tội cưỡng đoạt tài sản sẽ được thể hiện ở hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong đó:
- Về hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ làm một việc gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội (như đe dọa hủy hoại tài sản, loan tin về đời tư, tố giác hành vi phạm pháp…của người bị đe dọa).
Ngoài ra, cần lưu ý, tội cưỡng đoạt tài sản là tội có cấu thành hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi phân tích ở trên chứ không phụ thuộc vào việc có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Như vậy, khi một người sử dụng hình ảnh nóng để đe dọa rằng nếu không chuyển tiền để chuộc lại ảnh thì sẽ phát tán ảnh nóng trên các phương tiện, tức là người này đã sử dụng thủ đoạn uy hiếp về mặt tinh thần của chủ bức ảnh với mục đích là chiếm đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về danh dự nếu không được thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản. Và lúc này, người dùng ảnh nóng để đe dọa tống tiền sẽ cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản.
1.2. Đối với hành vi đe dọa sử dụng ảnh nóng để đăng tải lên trang mạng xã hội cho mọi người biết
Đối với việc sử dụng hình ảnh nhạy cảm của người khác để đăng tải lên trang mạng xã hội cho người thân và bạn bè của người này biết thì sẽ ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của chủ của những ảnh đó. Hành vi này được coi là hành vi vi phạm pháp luật. Trong trường hợp việc đăng tải tin tức hình ảnh của đối tượng trên sẽ dẫn tới ảnh hưởng trực tiếp hoặc chứng minh được với hành vi trên đã xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của bạn thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bởi lẽ, hành vi làm nhục người khác được thể hiện thông qua hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Các hành vi có thể thể hiện bằng lời nói hoặc hành động nhằm hạ thấp nhân cách, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Chẳng hạn thể hiện bằng lời nói như: sỉ nhục, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu, ... Còn thể hiện qua hành động như: lột trần truồng nạn nhân, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, mắm tôm, trứng thối vào người khác, sử dụng hình ảnh để loan truyền những thông tin không tốt, ...
Theo đó, khi cá nhân đang sử dụng hình ảnh nhạy cảm của người khác để gửi cho mọi người biết thì tức là người này đã sử dụng hành động là loan truyền thông tin cá nhân của người này với mục đích là hạ thấp nhân cách, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người này. Khi đó, cá nhân này có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo quy định pháp luật.
1.3. Đối với hành vi phát tán ảnh nóng của người khác lên các trang mạng xã hội
Đối với trường hợp cá nhân có được ảnh nóng của người khác nhưng lại loan truyền lên các trang mạng xã hội thì ngoài vấn đề có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy khi thỏa mãn các điều kiện dưới đây:
Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy được thể hiện qua các hành vi như làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy. Trong đó:
- Làm ra văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi tạo ra các loại văn hóa phẩm đồi trụy như vẽ tranh, chụp ảnh, dựng phim,…
- Sao chụp văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi chụp lại, viết lại, vẽ lại,…hoặc ghi băng lại những văn hóa phẩm đồi trụy.
- Lưu hành văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi đưa ra xem, phổ biến, cho thuê, cho mượn,…văn hóa phẩm đồi trụy.
- Vận chuyển văn hóa phẩm đồi trụy là mang các văn hóa phẩm đồi trụy đến các địa điểm khác nhau.
- Mua bán văn hóa phẩm đồi trụy là hành vi đưa các văn hóa phẩm đồi trụy ra trao đổi bằng tiền hoặc những lợi ích vật chất khác.
- Tàng trữ văn hóa phẩm đồi trụy là cất giữ các loại văn hóa phẩm đồi trụy, việc tàng trữ phải nhằm để phổ biến mới bị coi là phạm tội.
- Những hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy như dịch thuật, sang băng, đưa lên mạng Internet,…những vật phẩm có nội dung đồi trụy, nhằm phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy.
Văn hóa phẩm đồi trụy là những văn hóa phẩm có nội dung khiêu dâm, kích dâm, ca ngợi lối sống trụy lạc, lối sống gấp. Hình thức của văn hóa phẩm đồi trụy rất đa dạng như sách báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc các loại vật phẩm khác có tính chất đồi trụy. Ngoài ra, truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn về số lượng văn hóa phẩm đồi trụy theo quy định pháp luật hình sự.
2. Sử dụng ảnh nóng của người khác để tống tiền thì bị xử lý như thế nào?
2.1. Bị xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác như sau:
Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
- Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức, trừ trường hợp vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Nghị định này;
- Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản.
Ngoài ra, cá nhân này còn bị áp dụng thêm hình thức xử phạt bổ sung bao gồm:
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối;
- Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.
Theo đó, hành vi tống tiền bằng hình ảnh nóng là hành vi dùng thủ đoạn để buộc người khác đưa tiền, tài sản. Hành vi này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt là phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng, đồng thời tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
2.2. Bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi sử dụng ảnh nóng để tống tiền và biết việc làm của mình sẽ vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý làm và dùng thủ đoạn để đe dọa, uy hiếp nạn nhân nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn yêu cầu của mình là có dấu hiệu pháp lý của tội danh cưỡng đoạt tài sản.
Căn cứ Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sưng năm 2017 thì cá nhân sử dụng ảnh nóng của người khác với mục đích tống tiền sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội cưỡng đoạt tài sản. Khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cưỡng đoạt tài sản thì mức hình phạt thấp nhất là 1 năm tù, cao nhất là 20 năm tù và hình phạt bổ sung phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, tùy theo tính chất, mức độ hành vi vi phạm mà việc tống tiền bằng ảnh nóng của người khác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các mức hình phạt nêu trên.
Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau:
Bị uy hiếp, tống tiền thì phải làm gì? Người đe dọa phạm tội gì?
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.