1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là gì?

Theo khoản 1 Điều 16 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

"Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyển dân sự và nghĩa vụ dân sự."

Do các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong pháp luật dân sự đa dạng và phong phú, nên chủ thể cũng đa dạng, nhưng chủ thể phổ biến của quan hệ dân sự trước hết là những cá nhân. Muốn tham gia các quan hệ dân sự và trở thành chủ thể quan hệ đó các chủ thể phải có tư cách chủ thể để tham gia các quan hệ đó. Tư cách của từng loại chủ thể do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định. Tư cách chủ thể trước hết đó là năng lực pháp luật dân sự cá nhân.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tiền đề pháp lý đầu tiên, quan trọng để cá nhân tham gia vào các quan hệ dân sự. Những khả năng này do pháp luật quy định và công nhận, không phụ thuộc vào ý chí của cá nhân. Phạm vi năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm: các quyền và nghĩa vụ dân sự trong các quan hệ dân sự. Năng lực pháp luật là một bộ phận quan trọng cấu thành tư cách chủ thể của cá nhân.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là cơ sở pháp lý và là khả năng để cá nhân có tài sản thuộc sở hữu của mình, tham gia và xác lập các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản, quyền tài sản; là khả năng của cá nhân có quyền để và nhận di sản thừa kế; là khả năng cá nhân được sáng tạo và có quyền tác giả đối với những sản phẩm thuộc sở hữu trí tuệ; là khả năng cá nhân có các quyền nhân thân theo quy định từ Điều 25 đến Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 và các quyền dân sự khác.

2. Năng lực pháp luật dân sự giữa các cá nhân có giống nhau không?

Theo quyền con người cơ bản được quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người đều bình đắng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đổi xử trong đời sổng chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” thì mọi cá nhân là chủ thể của quan hệ dân sự đều được bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự. Nghĩa là, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, không có bất kỳ sự phân biệt nào.

Khoản 2 Điều 16 Bộ luật dân sự 2015 quy định: "Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau."

Trong quan hệ dân sự mọi chủ thể đều bình đẳng với nhau, xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, nên trong pháp luật dân sự, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự có tính chất tuyệt đối: trong mọi hoàn cảnh, trong mọi điều kiện... năng lực pháp luật luôn là một “khả năng” của cá nhân, cá nhân có quyền dân sự như nhau. Khi có điều kiện nhất định, khả năng có quyền dân sự như nhau sẽ trở thành hiện thực đối với chủ thể của quan hệ dân sự.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân mới chỉ có tính chất tiền đề như một loại quyền khách quan do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định. Tiền đề đó phải có những sự kiện pháp lý xảy ra và thông qua sự kiện pháp lý đó thì năng lực pháp luật của cá nhân mới có thể trở thành hiện thực trong các quan hệ dân sự.

>> Xem thêm:  Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là gì ? Đặc điểm, nội dung của năng lực pháp luật dân sự

3. Thời điểm phát sinh và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự.

Theo khoản 3 Điều 16 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Năng lực pháp luật dân sự của cả nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Như vậy, năng lực pháp luật của cá nhân có từ lúc người đó sinh ra và gắn liền với một cá nhân suốt đời cho đến khi chết, không chịu ảnh hưởng của tuổi tác, trạng thái tâm thần, tình trạng tài sản, địa vị xã hội, kinh nghiệm sống... Trong một số trường họp cần thiết, luật dân sự còn công nhận và bảo vệ quyền lợi cho cá nhân khi người đó còn là thai nhi như quyền thừa kế theo Điều 613 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 613.

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

4. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.

Theo Điều 17 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Điều 17. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

  1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
  2. Quyển sở hữu, quyền thừa kể và quyền khác đổi với tài sản.
  3. Quyển tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Thứ nhất, Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.

Theo nguyên tắc có tính chất truyền thống của pháp luật dân sự, quyền nhân thân chỉ liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể, không có giá trị tài sản và không thể chuyển giao cho chủ thể khác (như quyền đối với họ tên, hình ảnh, danh dự, uy tín, nhân phẩm, bí mật đời tư, chuyển đổi giới tính...). Các quyền nhân thân không gắn với tài sản (còn gọi là quyền nhân thân thuần tuý, không liên quan đến tài sản) được quy định từ Điều 26 đến Điều 39 BLDS năm 2015.

Trong quyền nhân thân còn có nhóm quyền liên quan đến quan hệ tài sản; hoặc quyền nhân thân là tiền đề làm phát sinh các quan hệ tài sản như quyền nhân thân trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Chủ thể không những có những quyền nhân thân không liên quan đến tài sản mà còn có các quyền nhân thân liên quan đến tài sản. Đó là quyền theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ như: đứng tên tác giả trong các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật... thì chủ thể còn được nhận tiền nhuận bút, tiền thưởng, tiền bí quyết kỹ thuật trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.

Điều 51 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “... 2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. 3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa."

Bộ luật dân sự năm 2015 đã tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa các quy định của Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” và quy định: tài sản thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng và giá trị bao gồm thu nhập họp pháp; của cải để dành; nhà ở; các loại tư liệu sản xuất; tư liệu sinh hoạt; các loại vốn; hoa lợi; lợi tức và các tài sản hợp pháp khác, về nguyên tắc, cá nhân chỉ bị hạn chế quyền sở hữu đối với những tài sản mà pháp luật quy định cá nhân không có quyền sở hữu hay không thuộc quyền sở hữu tư nhân.

Ngoài quyền sở hữu tài sản thì cá nhân còn có quyền để lại di sản thừa kế theo di chức, theo pháp luật, nhận thừa kế hoặc từ chối nhận di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Điều 620. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Cá nhân còn có các quyền khác đối với tài sản như: dùng tài sản làm vật bảo đảm trong các quan hệ về nghĩa vụ (Điều 292 BLDS năm 2015), quyền tặng cho, cho thuê, cho mượn... theo ý chí của cá nhân có tài sản thuộc sở hữu của mình.

Thứ ba, Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Đây là nhóm quyền tạo điều kiện để cá nhân tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của bản thân về mặt vật chất cũng như tinh thần. Các quyền này được thể hiện trong nguyên tắc của luật dân sự được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015:

“Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.

Các quyền này còn được thể hiện cụ thể và quy định chi tiết trong các phần tương ứng của BLDS năm 2015 tuỳ theo tính chất đặc thù của các quan hệ dân sự mà cá nhân đó tham gia.

Quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự của cá nhân còn có thể phát sinh từ các căn cứ khác như: quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền tham gia hoặc không tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ nhất định, quyền từ chối không thực hiện một nghĩa vụ dân sự trong những trường hợp pháp luật dân sự cho phép không thực hiện... Tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao dịch dân sự là phương thức quan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của cá nhân.

5. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có bị hạn chế không?

Theo Điều 18 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Điều 18. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự là quy định có tính chất tuyệt đối: trong mọi hoàn cảnh, trong mọi điều kiện... năng lực pháp luật luôn là quyền khách quan do pháp luật dân sự quy định mà mỗi cá nhân đều có quyền hưởng ngang nhau. Khi có điều kiện cần thiết nhất định, khả năng đó sẽ trở thành hiện thực trong quan hệ dân sự.

Vì vậy, mọi thỏa thuận nhằm hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là không có giá trị pháp lý và không được pháp luật dân sự thừa nhận, bảo hộ, trừ trường họp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là quyền nhân thân?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 25 Bộ luật dân sự 2015:

Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Câu hỏi: Quyền thay đổi họ của cá nhân?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 37 Bộ luật dân sự:

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây:

a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;

b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;

d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;

....

Câu hỏi: Quyền của cá nhân đối với hình ảnh?

Trả lời:

Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Bộ luật dân sự)

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.