1. Nền tảng số là gì?

Nền tảng số là hệ thống thông tin phục vụ các giao dịch điện tử trực tuyến hoạt động theo mô hình sử dụng công nghệ số để tạo môi trường mạng cho phép nhiều bên cùng tham gia để giao dịch, cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân, có thể sử dụng ngay, đơn giản, thuận tiện, linh hoạt theo yêu cầu, dễ dàng phổ biến trên diện rộng, các bên tham gia không cần tự đầu tư, quản lý, vận hành, duy trì. Nền tảng số là giải pháp đột phá để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đây cũng là yếu tố then chốt bảo đảm an toàn thông tin mạng và bảo vệ sự thịnh vượng của Việt Nam trên không gian mạng.

Chương trình phát triển nền tảng số quốc gia được xây dựng nhằm mục tiêu hình thành hệ sinh thái nền tảng số Việt Nam đáp ứng cơ bản yêu cầu chuyển đổi số, được sử dụng sâu rộng để tạo hạ tầng mềm phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số quốc gia và trong từng ngành, lĩnh vực, địa bàn, góp phần quan trọng để đạt được các chỉ tiêu chiến lược quốc gia phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Thông qua việc phát triển nền tảng số quốc gia nhằm tập hợp các doanh nghiệp Việt Nam xuất sắc, có tiềm lực, tập trung đầu tư phát triển các nền tảng số quốc gia làm nòng cốt để hình thành mạng lưới các nhà phát triển nền tảng số Việt Nam và mạng lưới hỗ trợ triển khai nền tảng số đông đảo, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó tạo lập được một số nền tảng số Việt Nam xuất sắc đủ sức cạnh tranh với các nền tảng số phổ biến quốc tế, chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, từ đó vươn ra thị trường khu vực và toàn cầu.

 

2. Các nền tảng số quốc gia được ưu tiên tập trung phát triển trong giai đoạn hiện nay

- Nền tảng số quốc gia do cơ quan nhà nước chủ quản, doanh nghiệp Việt Nam phát triển, làm chủ công nghệ lõi, sử dụng thống nhất trên toàn quốc, phục vụ hoạt động quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội: Nền tảng điện toán đám mây Chính phủ; nền tảng địa chỉ số; nền tảng bản đồ số; nền tảng họp trực tuyến thế hệ mới cho cơ quan nhà nước; nền tảng dạy học trực tuyến; nền tảng hóa đơn điện tử; nền tảng định danh người dân và xác thực điện tử; nền tảng truy xuất nguồn gốc nông sản; nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa; nền tảng hồ sơ sức khỏe điện tử…

- Nền tảng số quốc gia do doanh nghiệp làm chủ quản, làm chủ công nghệ lõi, cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu của cơ quan, doanh nghiệp và xã hội: Nền tảng điện toán đám mây doanh nghiệp; nền tảng trí tuệ nhân tạo; nền tảng mạng xã hội thế hệ mới; nền tảng sàn thương mại điện tử; nền tảng quản trị và kinh doanh du lịch; nền tảng trung tâm giám sát điều hành an toàn thông tin mạng…

Mỗi nền tảng số quốc gia có Cơ quan chủ quản, Bộ Thông tin và Truyền thông và các doanh nghiệp nòng cốt cùng phối hợp thúc đẩy phát triển, trong đó cơ quan chủ quản là một Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân một tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, chịu trách nhiệm chủ trì điều hành, đặt hàng hoặc đầu tư phát triển và tiên phong sử dụng nền tảng trong ngành, lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách. Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan điều phối chung phát triển các nền tảng số quốc gia. Doanh nghiệp nòng cốt phát triển nền tảng số quốc gia là doanh nghiệp Việt Nam đăng ký đầu tư nghiên cứu, làm chủ công nghệ, phát triển nền tảng đạt yêu cầu, tiêu chí của nền tảng số quốc gia đó.

Cơ quan chủ quản, Bộ Thông tin và Truyền thông và các doanh nghiệp nòng cốt bảo đảm nguyên tắc phát triển các nền tảng số quốc gia thân thiện, phổ dụng, dùng chung, có khả năng kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu, hoạt động đồng bộ, tạo hệ sinh thái chuyển đổi số nhanh và hiệu quả, phát huy được sức mạnh tổng thể, tránh việc triển khai phân tán, rời rạc, sử dụng trùng lặp nhiều giải pháp chuyển đổi số khác nhau.  

 

3. Chương trình phát triển nền tảng số quốc gia hiện nay

Chương trình thúc đẩy phát triển và sử dụng các nền tảng số quốc gia phục vụ chuyển đổi số, phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số (gọi tắt là Chương trình phát triển nền tảng số quốc gia) đặt ra 3 mục tiêu cụ thể để phát triển nền tảng số quốc gia gồm:

Thứ nhất, chương trình hình thành hệ sinh thái nền tảng số Việt Nam đáp ứng cơ bản yêu cầu chuyển đổi số, được sử dụng sâu rộng để tạo hạ tầng mềm phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số quốc gia và trong từng ngành, lĩnh vực, địa bàn, góp phần quan trọng để đạt được các chỉ tiêu chiến lược quốc gia phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Thứ hai, tập hợp các doanh nghiệp Việt Nam xuất sắc, có tiềm lực, tập trung đầu tư phát triển các nền tảng số quốc gia làm nòng cốt để hình thành mạng lưới các nhà phát triển nền tảng số Việt Nam và mạng lưới hỗ trợ triển khai nền tảng số đông đảo, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở.

Thứ ba, tạo lập được một số nền tảng số Việt Nam xuất sắc đủ sức cạnh tranh với các nền tảng số phổ biến quốc tế, chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, từ đó vươn ra thị trường khu vực và toàn cầu.

Song song đó, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành kèm danh mục các nền tảng số quốc gia phục vụ chuyển đổi số, chính phủ số, kinh tế số, xã hội số gồm 2 phần. Trong đó, có 20 nền tảng số quốc gia do cơ quan nhà nước chủ quản, doanh nghiệp Việt Nam phát triển, làm chủ công nghệ lõi, sử dụng thống nhất trên toàn quốc, phục vụ hoạt động quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội bao gồm: điện toán đám mây Chính phủ; địa chỉ số; bản đồ số; nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu; nền tảng họp trực tuyến thế hệ mới cho cơ quan nhà nước; nền tảng dạy học trực tuyến; nền tảng học kỹ năng trực tuyến mở (Moocs); nền tảng hóa đơn điện tử; nền tảng định danh người dân và xác thực điện tử; nền tảng dữ liệu số nông nghiệp; nền tảng truy xuất nguồn gốc nông sản; hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa, nền tảng quản lý tiêm chủng; nền tảng hồ sơ sức khỏe điện tử, nền tảng trạm y tế xã; nền tảng phát thanh số (trực tuyến); nền tảng truyền hình số; nền tảng bảo tàng số; nền tảng khảo sát, thu thập ý kiếm người dân do các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Tài Nguyên và Môi trường; Giáo dục và Đào tạo; Tài chính; Công an; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Y tế; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam là cơ quan chủ quản; đầu mối là các đơn vị hoặc doanh nghiệp trực thuộc.

Cùng với đó, 15 nền tảng số quốc gia còn lại do doanh nghiệp làm chủ quản, làm chủ công nghệ lõi, cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu của cơ quan, doanh nghiệp và xã hội gồm: Nền tảng điện toán đám mây doanh nghiệp; nền tảng trí tuệ nhân tạo; nền tảng thiết bị IoT; nền tảng họp trực tuyến thế hệ mới; nền tảng mạng xã hội thế hệ mới; nền tảng sàn thương mại điện tử; nền tảng đại học số; nền tảng quản trị tổng thể; nền tảng kế toán dịch vụ; nền tảng quản trị và kinh doanh du lịch; nền tảng quản trị và kinh doanh vận tải; nền tảng trung tâm giám sát điều hành thông minh (IOC); nền tảng trung tâm giám sát và điều hành an toàn thông tin mạng (SOC); nền tảng trợ lý ảo; nền tảng tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Đồng thời, chương trình triển khai bốn nhiệm vụ để thúc đẩy phát triển, sử dụng các nền tảng số Việt Nam.

 

4. Chính phủ điện tử là gì?

Chính phủ điện tử trong tiếng Anh là Electronic government. Có nhiều cách định nghĩa về Chính phủ điện tử như sau:

Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (World Bank): "Chính phủ điện tử là việc các cơ quan Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT-TT để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng. Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí".

- Định nghĩa của Liên Hợp quốc: "Chính phủ điện tử được định nghĩa là việc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chính phủ tới công dân".

- Định nghĩa của Tổ chức đối thoại doanh nghiệp toàn cầu về thương mại điện tử: "Chính phủ điện tử đề cập đến một trạng thái trong đó các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) số hóa các hoạt động bên trong và bên ngoài của họ và sử dụng các hệ thống được nối mạng hiệu quả để có được chất lượng tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công".

- Định nghĩa của Gartner: "Chính phủ điện tử là sự tối ưu hóa liên tục của việc cung cấp dịch vụ, sự tham gia bầu cử và quản lí bằng cách thay đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phương tiện mới".

- Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về chính phủ điện tử trong một thế giới phát triển: "Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chính phủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân. Chính phủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâm cộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác".

 

5. Chính phủ số và Chính phủ điện tử khác nhau ở điểm nào?

Theo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Chính phủ điện tử là tin học hoá các quy trình đã có, còn Chính phủ số là cung cấp các dịch vụ mới theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt chú ý dịch vụ mới.

Chính phủ điện tử tập trung vào dịch vụ công trực tuyến, Chính phủ số chuyển mọi hoạt động của Chính phủ lên môi trường số, hoạt động dựa trên dữ liệu và cung cấp thêm các dịch vụ mới. Chính phủ điện tử chủ yếu dùng công nghệ thông tin (CNTT), còn Chính phủ số là dùng công nghệ số, nhất là công nghệ của cách mạng Công nghiệp 4.0.

Khác biệt cốt lõi của Chính phủ số là sử dụng dữ liệu để ra quyết định, coi dữ liệu là một tài nguyên mới, đó là chuyển đổi về cách thức, ra quyết định của cơ quan chính quyền dựa trên báo cáo bản giấy sang dữ liệu phân tích định lượng và tổng hợp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. Đó là sự kết nối và chia sẻ dữ liệu của các cơ quan nhà nước để người dân chỉ cần cung cấp thông tin 1 lần cho cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu này để cung cấp thêm các dịch vụ mới.

Thời gian qua Bộ TT&TT đã triển khai đồng bộ để thúc đẩy Chính phủ số. Về mặt pháp lý đã ban hành được nghị quyết về mở dữ liệu và kết nối dữ liệu.

Về nền tảng kết nối trục liên thông, trục quốc gia đã hoàn thành, trục kết nối của các tỉnh và cấp bộ cơ bản năm nay sẽ là 100%.

Bộ TT&TT cũng khai trương cổng rất quan trọng là data.word.vn và các dữ liệu quốc gia sẽ được mở thông qua cổng này. Trên cơ sở đó Thủ tướng sẽ ban hành quyết định về lộ trình mở dữ liệu.

Bộ TT&TT đã soạn thảo xong, đang xin ý kiến các cơ quan và có thể năm nay sẽ ký được Chiến lược Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.