1. Người phạm tội khi 16 tuổi thì có được xóa án tích không?

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể thế nào là xóa án tích. Tuy nhiên, có thể hiểu xóa án tích là việc người bị kết án về hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi chấp hành xong hình phạt tù và trải qua thời gian thử thách thì được xóa án tích. Đồng thời, người được xóa án tích thì coi như chưa bị kết án theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây:

- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;

- Người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương XII Bộ luật Hình sự.

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

- 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

- 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

- 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

- 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.

Như vậy, theo những quy định nêu trên thì người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm khi đủ 16 tuổi được xóa án tích khi thuộc vào một trong hai trường hợp sau:

- Đã bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;

- Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

+ 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

+ 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.

2. Người đủ 18 tuổi phạm tội nhưng trước đó đã bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi thì có thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu” hay không?

Phạm tội lần đầu được hiểu là một cá nhân từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện thì các trường hợp được xác định là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau:

- Trước đó chưa phạm tội lần nào;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

- Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

- Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP quy định phạm tội lần đầu là một trong những điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 

Như vậy, có thể hiểu phạm tội lần đầu là việc một người chưa phạm tội lần nào từ trước đến nay hoặc có phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Căn cứ vào tiểu mục 1 Mục I Công văn 206/TANDTC-PC ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyển một số vướng mắc trong công tác xét xử  thì vấn đề người đủ 18 tuổi phạm tội nhưng trước đó đã bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi thì có thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu” hay không sẽ được giải đáp như sau:

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án được coi là không có án tích. Do vậy, trường hợp người đủ 18 tuổi phạm tội nhưng trước đó đã bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi thì thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu”.

Như vậy, từ các quy định trên, ta có thể thấy đối với trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án được coi là không có án tích. Do vậy, trường hợp người đủ 18 tuổi phạm tội nhưng trước đó đã bị kết án khi chưa đủ 16 tuổi thì được xác định là trường hợp “phạm tội lần đầu”.

3. Phạm tội lần đầu được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi nào?

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để Tòa án quyết định mức phạt cụ thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tức là, khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có bao gồm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Do đó, phạm tội lần đầu được xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng được quy định là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự hiện hành quy định đối với tội danh bị truy cứu là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Như vậy, Tòa án chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi đáp ứng đủ hai yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”.

Nếu bị cáo phạm tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc ngược lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần phạm tội này không phải là phạm tội lần đầu thì không thể áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 về xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau: 

Phạm tội đánh bạc lần đầu có bị phạt tù không?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.