Trả lời:

Tương tự như Câu hỏi 36, việc xác định di chúc hợp pháp cần căn cứ theo quy định của Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015.

Lưu ý, theo quy định tại khoản 5 Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2015 thì di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó được coi là di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực. Vì vậy, đối với các trường hợp di chúc của công dàn Việt Nam đang ở nước ngoài bắt buộc phải được công chứng, chứng thực (như khoản 3 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015) thì chỉ cần có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó là di chúc được coi là đã công chứng, chứng thực.

Tuy nhiên, quy định tại khoản 5 Điều 638 Bộ luật dân sự năm 2015 nêu trên chỉ áp dụng với công dân Việt Nam.

Với người nước ngoài gốc Việt (không phải công dân Việt Nam), họ phải xin chứng thực của nước mà họ là công dân, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam sẽ làm thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự để giấy tờ được sử dụng tại Việt Nam.

 

Thưa luật sư, xin hỏi: Cụ K có các con đểu còn sống là ông M, ông N, ông L. Cụ K biết chữ nhưng do sức khỏe yếu, viết không được rõ ràng nên nhờ anh G (là con ông M) viết hộ di chúc và làm chứng về di chúc cùng với ông H (là hàng xóm của cụ K). Di chúc này có hợp pháp không ?

Cảm ơn!

 

Trả lời:

Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

“Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này”.

Di chúc của cụ K có hai người làm chứng là anh G (cháu ruột cụ K) và ông H (hàng xóm). Theo quy định tại khoản 1 Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông H đủ điều kiện là người làm chứng còn anh G không đủ điều kiện là người làm chứng cho di chúc của cụ K. Bởi vì, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì anh G là người thừa kế theo pháp luật của cụ K (hàng thừa kế thứ hai) nên không được làm chứng cho di chúc của cụ K theo quy định của pháp luật.

Có quan điểm cho rằng, người thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 là người thừa kế thực tế (hàng thứ nhất hoặc hàng thứ hai nếu khi lập di chúc đã không còn hàng thứ nhất). Tuy nhiên, theo lời văn thì “người thừa kế” theo quy định trên không phân biệt là người thuộc hàng thừa kế nào. Khoản 1 Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định:

“Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc”.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)