1. Di chúc hợp pháp khi nào?

Di chúc được xem là hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi thoả mãn các điều kiện sau đây:

- Người lập di chúc phải có sự minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe doạ hoặc ép buộc. Điều này đảm bảo rằng người lập di chúc có ý chí độc lập và tự nguyện trong quá trình lập di chúc.

- Nội dung của di chúc không được vi phạm các quy định của pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội. Điều này có nghĩa là di chúc không được chứa những điều cấm trong pháp luật và không có những yếu tố gây hại đến xã hội.

- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Điều này áp dụng cho những người trẻ chưa đủ tuổi để tự mình lập di chúc và cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ để đảm bảo tính hợp pháp và an toàn của di chúc.

- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Điều này đảm bảo rằng người lập di chúc không có khả năng vì lý do sức khỏe hoặc hạn chế cá nhân không thể tự lập di chúc mà cần sự giúp đỡ và xác nhận của người làm chứng và cơ quan có thẩm quyền.

- Di chúc bằng văn bản không có công chứng hoặc chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều này. Điều này cho phép di chúc không cần công chứng hoặc chứng thực nhưng vẫn được coi là hợp pháp nếu thoả mãn các điều kiện cần thiết.

- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng. Ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại và ký tên hoặc đóng dấu. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc đóng dấu của người làm chứng.

 

2. Người không có tên trong di chúc có được hưởng thừa kế hay không?

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, có những người được quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc. Các người sau đây được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật và họ không được người lập di chúc chỉ định hoặc chỉ được hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

- Con chưa thành niên: Người chưa đủ tuổi thành niên, tức là chưa đạt đến độ tuổi mà pháp luật quy định là người trưởng thành. Ví dụ, trong trường hợp bạn chỉ mới 17 tuổi, bạn được coi là con chưa thành niên và có quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc.

- Cha, mẹ của người thừa kế cũng có quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc.

- Vợ hoặc chồng: Vợ hoặc chồng của người thừa kế, cũng được quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc.

- Con thành niên mà không có khả năng lao động: Những người con của người thừa kế, đã đủ tuổi thành niên nhưng không có khả năng lao động, cũng được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc.

Quy định này không áp dụng đối với những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc những người không có quyền hưởng di sản theo quy định. Những người như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động sẽ được hưởng phần di sản theo quy định của pháp luật, ngay cả khi họ không được đề cập trong di chúc hoặc chỉ được hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó.

=> Theo đó, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động được coi là những đối tượng có quyền hưởng di sản thừa kế một người thừa kế theo pháp luật, dù không có tên trong di chúc hoặc chỉ được hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba suất. Các quy định này không áp dụng đối với những người từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo quy định khác trong Bộ luật Dân sự. Quyền hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào di chúc được đảm bảo cho những người được quy định cụ thể như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động. Điều này đảm bảo rằng những người này sẽ nhận được phần di sản theo quy định pháp luật, bảo vệ quyền lợi và đáp ứng nhu cầu kinh tế của họ mà không phụ thuộc vào di chúc của người kế thừa.

 

3. Quy định việc phân chia di sản theo di chúc

Căn cứ theo Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về phân chia di sản theo di chúc cụ thể như sau:

- Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Trong trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế, di sản sẽ được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ khi có thỏa thuận khác. Điều này có nghĩa là di sản sẽ được phân chia đồng đều giữa các người thừa kế được nêu tên trong di chúc, trừ khi có sự thỏa thuận khác.

- Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật, người thừa kế sẽ nhận hiện vật đó cùng với các hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó. Ngoài ra, nếu hiện vật bị giảm sút giá trị tính đến thời điểm phân chia di sản do lỗi của người khác, người thừa kế cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều này đảm bảo rằng người thừa kế sẽ nhận được giá trị của hiện vật cùng với mọi lợi ích từ nó, và nếu có thiệt hại do lỗi của người khác, người thừa kế sẽ được bồi thường.

- Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản, tỷ lệ này sẽ được tính trên giá trị khối di sản còn lại vào thời điểm phân chia di sản. Điều này có nghĩa là tỷ lệ phân chia được áp dụng trên giá trị của di sản còn tồn tại tại thời điểm phân chia, chứ không tính toàn bộ giá trị của di sản từ trước đến nay. Điều này đảm bảo rằng người thừa kế sẽ nhận được phần di sản tương ứng với tỷ lệ đã được xác định trong di chúc.

Theo đó, việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế, di sản sẽ được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ khi có thỏa thuận khác. Nếu di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật, người thừa kế sẽ nhận hiện vật đó kèm theo hoa lợi và lợi tức từ hiện vật đó. Nếu hiện vật bị giảm sút giá trị do lỗi của người khác, người thừa kế cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản, tỷ lệ này sẽ được tính trên giá trị khối di sản còn lại vào thời điểm phân chia di sản. Như vậy, các quy định này đảm bảo rằng di sản sẽ được phân chia theo ý chí của người để lại di chúc. Người thừa kế có thể nhận được di sản theo các hình thức khác nhau như phần di sản đồng đều, hiện vật kèm hoa lợi và lợi tức, hoặc theo tỷ lệ đối với giá trị khối di sản. Điều này tạo ra sự công bằng và đáp ứng ý muốn của người để lại di chúc trong việc phân chia di sản.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Việt kiều có được hưởng thừa kế tài sản tại Việt Nam Không?

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!