Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong  Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tượng đài bi tráng, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc hoạ thành công những anh hùng áo vải kiên cường bất khuất, dám hi sinh để giành độc lập cho đất nước. Dưới đây Luật Minh Khuê xin gửi tới bạn đọc một số bài văn mẫu phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

 

1. Dàn ý phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1.1. Mở bài

Giới thiệu khái quát vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

 

1.2. Thân bài

a. Hoàn cảnh sáng tác của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+ Thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định

+ Phong trào vũ trang Pháp dấy lên mạnh mẽ

+ Đêm 16/12/1861 Bùi Quan Diệu chỉ huy 3 cánh quân tập kích vào đồn Tây Dương ở Cần Giuộc.

+ Nghĩa quân chiếm được đồn địch, đốt nhà dạy đạo và đâm bị thương đồn trưởng Dumont, chém chết một số lính Mã tà, Ma ní.

+ Pháp phải điều động tàu chiến nã đại bác từ sông Cần Giuộc để chiếm lại đồn.

+ Phía nghĩa quân hi sinh 27 người.

 

b.Vẻ đẹp của người nông dân

+ Người nông dân Nam Bộ nghèo khó "côi cút làm ăn" sống đời thầm lặng, cơ cực ở thôn ấp.

+ Lòng căm thù, ghét cay ghét đắng trước hình ảnh kẻ thù xâm chiếm đất nước ta.

+ Lòng yêu nước cao độ

+ Tinh thần chiến đấu dũng cảm chống quân thù

+ Hi sinh anh dũng

 

c. Nhận xét chung về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

+ Những người nghĩa sĩ vô danh vì "Chết vinh hơn sống nhục"

+ Tượng đài của một tập thể anh hùng

+ Nguyễn Đình Chiểu là người sớm nhận thấy được rõ tinh thần chiến đấu của người nông dân.

 

1.3. Kết bài

Đánh giá về vẻ đẹp hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

 

2. Mẫu phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"

2.1. Mẫu 1

Từ trước tới nay, độc lập, tự do, hạnh phúc là những nhu cầu thiết yếu của mỗi quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ, mò hôi xương máu của bao anh hùng đã ngã xuống để có một nền hoà bình như hiện nay.

Công lao của những người anh hùng vô danh ấy luôn được ghi nhớ qua các tượng đài, các ngày tưởng niệm, hơn thế nữa cond được ghi vào sử sách để đời đời ca ngợi chiến công. Nguyễn Đình Chiểu chính là một trong những nhà văn đã dùng tài năng và tâm huyết của mình để nói lên công lao của những người chiến sĩ. Tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của ôngd dược viết vào những năm đầu trong thời kì kháng chiến chống Pháp để tưởng nhớ công lao của các chiến sĩ nông dân. Quan tác phẩm, ta có thể thấy được hình tượng người chiên sĩ bi hùng.

Tiếng súng giặc vang lên, những người nông dân nghĩa sĩ đều đứng lên bảo vệ Tổ Quốc:

" Hỡi ôi!

Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ..."

Mở đầu bài văn tế, tác giả cũng phải thốt lên "hỡi ôi!"- đó là một câu than, đó là một sự căm thù với giặc và cũng là một lòng cảm thán đối với sự anh dũng của người nông dân nghĩa sĩ. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối để làm nổi bật lên ý chí của những người nông dân. "Súng giặc", "lòng dân" hai thứ mâu thuẫn với nhau, nó mở ra một trận chiến bão táp, sự đối lập giữa thế lực xâm lăng và tấm lòng trung thành bảo vệ Tổ Quốc. "Mười năm công vỡ ruộng" với "một trận địa đánh Tây" càng khẳng định tinh thần của những người chiến sĩ ấy quyết tâm chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.

Những tưởng những người nghĩa sĩ ấy là những đội quan tinh nhuệ của triều đình, nhưng không, họ đều là nhưunxg người nông dân áo vải:

"Nhớ linh xưa

Cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó"

Những người nông dân áo vải với công việc lao động thường ngày, làm lụng vất vả, chịu thương chịu khó để kiếm niếng cơm manh áo. Họ là những người sống găn bó với từng tấc đất ruộng đồng, với xóm làng, họ không phải là những binh lính chuyên nghiệp. Trước khi cầm vũ khí, họ chỉ là những con người bình thường với tâm hồn giản dị, chỉ biết cuộc sống với vườn tược trâu bò. Ấy vây mà khi Tổ quốc lâm nguy, họ nhanh chóng hoá thân thành những người lính can trường, đứng lên bảo vệ đất nước.

Nghe tin giặc tới, lòng dân căm phẫn nhưng không trông chờ tin gì ở triều đình. Họ tự giác ra chiến trận để đánh đuổi bọn giặc ngoại xâm. Nguyễn Đình Chiểu đã vậnd ụng một cách khéo léo những từ ngữ miêu tả rất sinh động, chân thực gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Hoàn cảnh chiến đấu ấy, diễn ra thật đối lập. Những người nghĩa sĩ ấy chỉ có những dụng cụ thô sơ, thiếu thốn "manh áo vải, ngọn tầm vông, dao phay, con cúi,..." Những thứ vũ khí thô sơ ấy không ngăn cản được nghĩa khí tinh thần của họ. Chính giặc đã khiến cho những người nông dân hiền lành chất phác muốn "ăn gan", "cắn cổ" bọn cướp nước. Hình tượng những người binh sĩ ấy càng được nổi bật hơn khi dam đối đầu với vũ khí lợi hại, hiện đại của giặc "tàu thiếc, tàu đồng, đạn to, đạn nhỏ,..." Nguyễn Đình Chiểu đã dùng rất nhiều ngôn ngữ góc cạnh kết hợp với những động từ mạnh "đâm ngang, chém ngược, xô đẩy..." để miêu tả tinh thần chiến đấu của họ. Họ chiến đấu dũng cảm, anh dũng hy sinh với khí thế hừng hực "khí thế tấn công như vũ bão, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng". Nghĩa quân ấy đã xả thân vì nghĩa lớn của dân tộc, vì một tương lai của đất nước.

Những người chiến sĩ ấy đã vì dân tộc mà hy sinh, để lại nỗi đau cho người thân, mẹ già, con thơ. Nguyễn Đình Chiểu cũng như người thân, nhân dân đau đớn trước sự hy sinh. Tiếng khóc của họ bi mà không luỵ vì nó tiếp tục ca ngợi công lao của nghĩa sĩ, đồng thời nó thúc giục thế hệ sau tiếp tục sự nghiệp của các anh. Đồ Chiểu đã rất thành công trong nghệ thuật khắc hoạ nhân vật. Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh những người nghĩa sĩ hiện lên thật oai phong, lẫm liệt. Giọng văn đều mang âm hưởng bi thương, nhưng lại vô cùng hào hùng để ca ngợi vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

"Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là một tác phẩm đặc sắc đã ca ngợi công lao của những người chiến sĩ, nó sẽ mãi là một hình tượng đẹp, một tấm gương lớn cho người đời noi theo.

 

2.2. Mẫu 2

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ và bất hạnh. Có lẽ vì vậy mà hơn ai hết ông càng cảm nhận được nỗi đau mất nước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta. Năm 1859 Pháo tràn vào sông Bến Nghé chiến thành Gia Định, ông phải vào quê vợ ở Thanh Ba, Cần Giuộc lánh tạm. Thực dân Pháp sau khi chiếm được Gia Định chúng bắt đầu thực hiện quá trình mở rộng cuộc tấn công ra khỏi vùng lân cận. Cần Giuộc bị giặc Pháp xâm chiếm. Những người nông dân áo vải, chân lấm tay bùn đã đứng dậy đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt. Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân. Tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ  đã hi sinh trong đêm ngày 16/12/1861. Với lòng cảm phục và tình cảm xót thương vô hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài văn tế không những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đối với các nghĩa sĩ Cần Giuộc mà còn khắc học lên vẻ đẹp chân thực, bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây.

Nhớ linh xưa:

Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ

Việc cuộc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng

Trước đây họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ là "cui cút làm ăn". Họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ trong thầm lặng. Trong cuộc sống, họ có những lỗi lo toan "miếng cơm manh áo", họ chỉ quen làm lụng việc nhà nông: cày, bừa, cấy, hái, làm bạn với con trâu, ruộng đồng. Họ chưa biết đến "cung ngựa", "trường nhung", chưa quen chiến trận, chưa được qua huấn luyện, chỉ vì lòng yêu nước mà đứng lên đánh giặc.

Khi "tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng", họ ngóng trong mệnh lệnh của triều đình "trông tin quan như trời hạn trồng mưa".

Thì ra cái bi kịch xót xa chính là: triều đình nhu nhược, không hiểu được lòng dân yêu nước. Lòng căm thù giặc của những nười nông dân thì không thể sục sôi:

"Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn ngon

Ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ."

Hình tượng người nông dân, những người nghĩa sĩ yêu nước  hiện lên thật quả cảm, hào hùng. Lòng yêu đất nước tha thiết xuất phát từ chính trái tim của họ đã khiến họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh.

Vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được toát ra chính lòng căm thù giặc sục sôi. Chính lòng căm thù giặc đã biến thành hành động vùng lên quật khởi hào hùng.

"Nào đợi ai đòi, ai băt, phen này xin ra sức đoạn kình

Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ".

Trong những tác phẩm phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa trước đây, người nông dân khi phải đi làm lính phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua, họ ra đi với tâm trạng và khí thế "bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa", thì những người nông dân nghĩa sĩ của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác. Họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, đó là nét đẹp bản chất trong tâm hồn, Nguyễn Đình CHiểu còn khắc hoạ thành công nét đẹp hành động của họ, từ động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử mà đã tạo cho họ sức mạnh vô cùng lớn. Họ đã hành động, đứng lên chống giặc ngoại xâm, với "ngoài cật có một manh áo vải nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ". Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến cho chúng ta vừa cảm thấy tự hào, vừa xót xa, những người nông dân nghĩa sĩ ấy tượng trưng cho sức mạnh dân tộc, đối mặt với kẻ thù lớn mạnh "đạn nhỏ, đạn to", "táu thiếc, tàu đồng" với đội quân xâm lược nhà nghề, vậy mà vũ khí để họ dùng chống lại chỉ là "một manh áo vải", "một ngọn tầm vông", chỉ có "dao phay" và chỉ là những "hoà ma đánh bằng rơm con cúi". Họ biết rằng đối với những thứ vũ khí thô sơ của họ mang ra chiến đấu chính là đi vào chỗ chết. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc, cũng là bi kịch của những con người sống vào thời kì nghiệt ngã, chính sự nhu nhược của nhà vua khiến đất nước rơi vào vòng nô lệ.

Nhưng cũng từ chính cái bi kịch đó lại làm sáng ngời vẻ đẹp hình tượng của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước. Bằng sự ngoan cường, lòng yêu nước nồng nàn, họ đã làm lên những điều kì diệu, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa, quyết chiến không sợ hi sinh. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ hiện lên với một vẻ đẹp rực rỡ hào hùng của chủ nghĩa yêu nước, làm lu mờ cái lịch sử đen tối mất nước nửa cuối thế kỉ XIX.

Bài văn tế như bức tượng đài bằng ngôn từ, khắc hoạ hình tượng những người nghĩa sĩ nông dân hào hùng mà bi tráng, tượng trưng cho tinh thần yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm của ông cha ta. Bức tượng đài ấy đồng thời thể hiện nỗi bi kịch nước mất nhà tan, triều đình lũng loạn. Nhưng tất cả, trong khói lửa chiến tảnh, tinh thần bất khuất của nhân dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung vẫn sáng ngời lí tưởng cao đẹp của người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Trên đây là chia sẻ của Luật Minh Khuê về phân tích hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Mong rằng qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính của tác phẩm này. Trân trọng cảm ơn.