1. Bài mẫu số 1
Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ, nhà văn hàng đầu của văn học trung đại, được coi là ngôi sao sáng của văn học dân tộc. Đương thời, ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước sâu sắc. Trong kho tàng sự nghiệp sáng tác khổng lồ ấy không thể không kể đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được sáng tác trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Cuộc khởi nghĩa của nghĩa sĩ quân dân Cần Giuộc nổ ra và bước đầu đã giành được thắng lợi. Nhưng sau đó vì thế địch quá mạnh, 20 nghĩa sĩ quân ta hy sinh. Vào lúc bấy giờ tuần phủ Gia Định đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiều viết một bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã bàn luận về lẽ sống chết:
"Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ"
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ'. Tác giả đã tái hiện được bối cảnh thời địa với nhiều biến cố, bão táp: giặc được trang bị những vũ khí tối tân, đã tàn sát biết bao người dân vô tội. Chính trong hoàn cảnh ấy đã thử thách tấm lòng của con người đối với đất nước. Người dân Nam Bộ không hề sợ chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ sẵn sàng từ bỏ, hy sinh những gì quý giá nhất (tài sản, tính mạng) để đổi lại danh tiếng, tiếng thơm lưu truyền với muôn đời. Qua đó đã làm sáng tỏ chân lý của thời đại: Chết vinh còn hơn sống nhục.
Phần tiếp theo của tác phẩm, chân dung hình tượng nghĩa sĩ nông dân hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng và kiên cường. Trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân áo nâu vô cùng thuần phác, họ đã sống một cuộc sống bình dị, cui cút làm ăn với biết bao lo toan và bộn về của cuộc sống. Quanh năm suốt tháng những người nông dân ấy chỉ bận rộn với việc nhà nông: "việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm" còn những việc "tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó". Nhưng khi mà giặc xâm lược đến bờ cõi, đến sự bình yên vốn có, họ đã sẵn sàng đứng lên, trong họ có sự chuyển biến lớn về nhận thức và tình cảm. Đầu tiên, sự chuyển biến về tình cảm. Họ đã nghe ngóng "tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng" - tin giặc đến phong thanh họ đã nghe từ laia. Không chỉ nghe họ còn ngửi thấy cả mùi đấu tranh: "Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm" và cuối cùng họ đã tận mắt nhìn thấy sự xâm lược, độc ác của kẻ thù: "Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ". Đến lúc này họ đac có những chuyển biến rõ về nhận thức, nếu ban đầu trong những người nông dân ấy vẫn còn có niềm tin vào triều đình, trông chờ vào quân đội "như trời hạn trông mưa" thì đến đây họ đã có nhận thức rõ ràng về nền độc lập và danh dự tổ quốc; về kẻ thù - những kẻ đi xâm lăng thì không có lí do để tồn tại dưới ánh sáng chính nghĩa và hơn thế họ nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước: "Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ". Sự chuyển động của họ thật oai phong, lẫm liệt đầy dũng khí.
Trong trận đánh với quân địch, họ không hề trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ, trang bị của họ hết sức thô sơ chỉ là những vật dụng sinh hoạt và lao động hàng ngày: "Ngoài cật có manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông", "hỏa mai đánh bằng rơm con cúi".... Ngược lại, quân địch được trang bị những vũ khí tối tân, hơn nữa chúng còn được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ. Sự chênh lệch giữa tương quan lực lượng đã thể hiện rõ, nhưng những người nông dân không hề nhụt chí, họ vẫn "đạp rào lưới tới", "coi giặc như không"... không hề có gì là uy sợ trước uy lực của kẻ thù. Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ lên khung cảnh chiến trường ác liệt. Đồng thời cũng ánh lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ: hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất khuất. Những vũ khí tối tân, hiện đại ấy đã khiến bao nghĩa sĩ Cần Giuộc ngã xuống, gây nên niềm tiếc thương cho toàn dân tộc. Tiếng khóc của thi sĩ, của anh em đồng bào cho thực tại và tương lai phía trước, khóc thương cho những người đã ngã xuống hy sinh. Qua đó khẳng định những điều bất tử với thời gian và hướng tới sự tiếp nối của thế hệ tương lai.
Những vần thơ cuối là sự khẳng định cho sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đồng thời cũng là tiếng nói biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ. Đặc biệt trong câu "Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiêng dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cắm bởi một câu vương thổ" vừa thể hiện được nỗi xót thương và lòng tưởng nhớ những người đã mất, đồng thời tôn vinh công trạng của họ.
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dụ, mang đậm hơi thở Nam Bộ; Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên một bản văn tế "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" khắc họa thành công bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân. Tác phẩm là tiếng lòng cảm phục cũng như nỗi tiếc thương trước những công trạng và sự hy sinh bất khuất của họ.
2. Bài mẫu số 2
Tinh thần yêu nước giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn thì tinh thần yêu nước lại được thể hiện khác nhau. Đến với "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu, ta lại càng cảm khái và xúc động nghẹn ngào trước sự hy sinh và tấm lòng yêu nước của người lính nông dân xưa.
Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu tái hiện lại không khí sục sôi thời đại lịch sử lúc bấy giờ: "Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ". Câu văn ngắn, nhịp nhanh càng phần nào thấy được cái không khí sục sôi, lửa cháy của thời đại gửi gắm vào trong đó. Giữa bối cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy, vẻ đẹp của người lính nông dân xưa càng được tô đậm, rõ nét.
"Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộc trâu, ở trong làng bộ.
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tay khiên, tay súng, tay mác, tập cờ, mắt chưa từng"
Không phải là những người lính đã quen với binh đạo, họ đều là những người dân nghèo lương thiện, quanh năm chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, ấy thế mà khi tổ quốc cần thì trái tim họ một lòng hướng về tổ quốc. Họ chấp nhận hy sinh thậm chí cả tính mạng, sự sống của mình để hy sinh vì nghĩa lớn, vì tiếng gọi thiêng liêng của dân tộc. Biết phía trước là hiểm nguy, nhưng họ không ngần ngại dấn thân, không cần một thủ lĩnh vẫn sẵn sàng đứng lên ra chiến trường, vẫn hào hùng, hào sảng với khí thế quật cường chính mình. "Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi" câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu phải chăng đang muốn nhắc đến một thực tế đau buồn thời xưa. Đó là vào thời xưa, khi mà người lính đi chiến trường họ không hoàn toàn tự nguyện mà họ bị ép vào những cuộc chiến tranh phi nghĩa, vậy nên khi từ giã gia đình "chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa". Hai câu văn của Nguyễn Đình Chiểu phần nào cho thấy sự đối lập hoàn toàn giữa tư thế và tâm thế của người lính khi tam gia các cuộc chiến tranh vì hòa bình và tương lai thiên thu vạn đại của dân tộc.
Dẫu trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, lực lượng của ta và địch có sự chênh lệch vô cùng lớn và tương quan đầy đối lập, không cân sức. Nhưng những người lính nông dân áp vải chân lấm tay bùn vẫn xông lên, vẫn chiến đấu bằng tất cả sức bình sinh của mình.
"Chỉ với những vũ khí thô sơ như:
Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầy quan hai họ
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ni hồn kinh."
Thậm chí còn có cả những chiến công lẫy lừng, đó là những chiến tích huy hoàng đánh dổi bằng biết bao xương máu của người lính nông dân, đồng thời, hình ảnh của họ cũng là đại diện cho sức mạnh của dân tộc, một dân tộc quật cường đánh bại những kẻ thù sừng sỏ nhất. Trước Nguyễn Đình Chiểu đã có rất nhiều thi nhân không tiếc lời ca ngợi người nông dân nhưng đến với nhà thơ Nam Bộ, cái mới của ông là đã cho người đọc thấy được sức mạnh thực sự của nhân dân, họ không chỉ yếu mềm cần được bảo vệ mà họ cũng đầy dũng cảm và cao cả.
Bằng tấm lòng của một cá nhân yêu nước, những vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" vẫn sẽ sáng mãi trong bầu trời văn học Việt Nam cùng tinh thần yêu nước và hi sinh vĩ đại của họ.
3. Bài mẫu số 3
Khi nhắc tới thơ văn của cụ Nguyễn Đình Chiểu là nhắc tới những áng văn thơm thấm nhuần lý tưởng đạo đức cao đẹp nhân nghĩa với những con người sống cao đẹp nhân hậu thủy chung biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng cao cả và dám đấu tranh với những thế lực bạo tàn. Tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là một tác phẩm như thế. Nó giống như tiếng khóc từ đáy lòng của tác giả trước sự hy sinh của những anh hùng áo vải.
Mở đầu bài thơ là một lời than:
"Hỡi ôi! Súng giặc đất rền lòng trời dân tỏ"
Tiếng than vang lên mà nghe sao đau đớn đến thế. Tiếng than ấy cho ta tưởng tượng về một khung cảnh tang thương chết chóc di chiến tranh với những người tử trận đang nằm la liệt trên nền đất lạnh. Ông trời có thấu hiểu lòng người, có thể nhìn thấu được nỗi tang thương đau xót trong lòng những người thân ở lại. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ rất nhiều nguồn cảm xúc. Đó là thái độ cảm phục và niềm thương đau xót xa vô hạn của tác giả đối với những người nông dân nghĩa sĩ. Các chi tiết "xác phàm vội bỏ", "nào đợi gươm hùm treo mộ", "tấc đất ngọn rau ơn chúa"... thể hiện niềm thương cảm, xót xa vô tận. Một lần nữa tác giả muốn khẳng định nghĩa binh chỉ là những dân thường, nhưng sẵn sàng dấy binh vì một lòng yêu nước.
Tác giả còn miêu tả hình tượng người nghệ sĩ với vẻ đẹp của hình thức bên ngoài "chẳng qua là dân ấp dân làng", "ngoài cật có một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông". Đó là những hình ảnh của một người dân chân lấm tay bùn, quanh năm bán mặt cho đất bán mặt cho trời. Còn cuộc sống của họ thì được tác giả miêu tả bằng những câu văn mộc mạc dễ hiểu không mấy cầu kì về câu chữ "cui cút làm ăn toan lo nghèo khó", "chưa quen cung ngựa", "việc cuộc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm". Từ đó cho ta một cái nhìn toàn diện đầy đủ nhất về người nông dân. Họ vốn là những người dân lao động bình thường và họ cực kì lương thiện không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra, họ thỏa mãn với cuộc sống hiện tại. Thế nhưng khi tổ quốc lâm nguy súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương xứ sở thì họ lại có một tinh thần kháng chiến sôi sục. "Súng rền" cho thấy bọn giặc đã sử dụng những vũ khí rất tối tân chứ không phải gậy guộc là khiên là mác nữa cho thấy ở đây có một khoảng cách xa về vũ trang của cả hai bên. Nhà văn đã miêu ta được vẻ đẹp của người dân yêu nước sao mà giản dị đến thế.
"Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan ngày xem ống khói đen sì muốn ra cắn cổ". Chính vì thế mặc dù dân ấp, dân làng, ngoài cật có một manh áo vải trong tay cầm một ngọn tầm vông nhưng họ sẵn sàng tự nguyện xả thân vì nghĩa lớn "hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ", "chi nhọc quan quản gióng trống ký trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không nào sợ thằng tây bắn đạn nhỉ đạn to xô cửa xông vào liều mình như chẳng có" và thế là "kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho tà mã ma ní hôn kinh bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ".
Nguyễn Đình Chiểu đã thành công trong việc khắc họa hình tượng nghĩa quân Cần Giuộc. Các từ miêu tả nguông gốc xuất thân ngoại hình và hành động của người nghĩa sĩ nông dân cho thấy họ chỉ là những người dân áo vải bình thường nhưng khi giặc ngoại xâm kéo đến, họ nhận thức được trách nhiệm của bản thân phải bảo vệ đất nước sẵn sàng hi sinh vì nước. Họ chính là những tấm gương cao đẹp.
Trên đây là tổng hợp mẫu phân tích bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" tác giả Nguyễn Đình Chiểu do công ty Luật Minh Khuê sưu tầm và phân tích. Hy vọng nội dung hữu ích đối với bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!