1. Nguyên tắc phân quyền
1.1. Nội dung cơ bản của nguyên tắc phân quyền
Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước vốn có mầm mống từ thời cổ đại, được đề cập trong các tác phẩm của Aristote và đã được vận dụng vào việc tổ chức bộ máy nhà nước Athens, La Mã. Đến thời kì cách mạng tư sản, tư tưởng này được kế thừa và phát triển bởi Locke, Montesquieu, Rousseau,... Hiện nay, tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước được thể chế hóa thành pháp luật, trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng bậc nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy các nhà tư sản trên thế giới. Nguyên tắc này bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, quyền lực nhà nước được phân chia thành nhiều loại quyền khác nhau như quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp... và được trao cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện một cách độc lập, mỗi cơ quan chỉ thực hiện một quyền. Điều này đảm bảo không một cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước, cũng như không một cơ quan nào có thể lấn sân sang hoạt động của cơ quan khác. Thực chất của sự phân chia quyền lực là sự phân định một cách rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước đồng thời đảm bảo sự chuyên môn hóa trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Cá cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp... đều thực hiện chức năng, nhiệm vu của mình trên cơ sở pháp luật.
Thứ hai, giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp,..còn có sự kiềm chế, đối trọng, chế ước lẫn nhau theo phương châm không cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm soát, giám sát từ phía cơ quan khác. Điều này nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, độc đóa hoặc thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng như có thể tránh được những mối nguy hại khác. Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sat lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng thể hiện sư phối hợp với nhau nhằm tạo sự thống nhất của quyền lực nhà nước.
Ở các nước tư bản, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, việc áp dụng nguyên tắc này trong tôt chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không hoàn toàn giống nhau. Thực tế cho thấy, có thể có ba mô hình áp dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản, đó là mô hình phân quyền cứng rắn, mô hình phân quyền mền dẻo, mô hình phân quyền hỗn hợp (trung gian). Sự khác nhau giữa ba mô hình này thể hiện ở cơ cấu các thiết chế quyền lực tối cao, địa vị của từng thiết chế cũng như mối quan hệ giữa chúng.
Hiện nay, quan niệm về phân chia quyền lực nước không chỉ giới hạn ở việc phân quyền theo chiều ngang (lập pháp, hành pháp, tư pháp...). Lí luận và thực tiễn cho thấy rằng sự phân chia quyền lực của nhà nước còn diễn ra theo chiều dọc, giữa nhà nước liên ban với nhà nước thành viên, giữa chính quyền trung ướng với chính quyền địa phương, giữa các cấp chính quyền với nhau.
1.2. Phân quyền ngang và phân quyền dọc
- Theo chiều ngang, quyền lực nhà nước phân chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền đó được trao cho những cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhiệm. Quyền lập pháp trao cho nghị viện, quyền hành pháp trao cho cho chính phủ, quyền tư pháp cho hệ thống các cơ quan xét xử. Như vậy hoạt động của các cơ quan quyền lực công có sự chuyên môn hoá, mỗi cơ quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, không làm ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác. Quyền lực giữa các cơ quan quyền lực cân bằng, không có loại quyền lực nào vượt trội hơn thậm chí chúng có thểkiềm chế, đối trọng và kiểm soát lẫn nhau trong quá trình hoạt động theo nguyên tắc “quyền lực ngăn cản quyền lực” nhắm ngăn cản sự lộng quyền và lạm quyền trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, chúng cũng phải đồng thời phối hợp với nhau trong một số hoạt động nhất định để đảm bảo sự thống nhất của quyền lực tối cao này.
- Theo chiều dọc, quyền lực nhà nước được phân chia giữa nhà nước liên bang với nhà nước thành viên, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương. Việc phân chia quyền lực như vậy nhắm khắc phục tình trạng chuyên chế, khi quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một người hoặc một cơ quan. Việc phân chia như vậy cũng có nghĩa là phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các hệ thống cơ quan khác nhau, nhờ đó mà tránh được sự chồng chéo, lẫn lộn hoặc tranh giành quyền lực giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau. Do đó, việc phân chia như vậy không những không làm ảnh hưởng mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất quyền lực. Phân quyền dọc gồm phân quyền theo lãnh thổ và phân quyền theo chuyên môn.
2. Ưu điểm, nhược điểm của nguyên tắc phân quyền
- Mặt tích cực của học thuyết tam quyền phân lập thể hiện ở chỗ nó ngăn được sự chuyên quyền rất dễ phát sinh ở xã hội mà sự thống trị thuộc về thiểu số ít người trong xã hội. Về mặt lịch sử, học thuyết này đã giúp giai cấp tư sản đấu tranh có hiệu quả để chống chế độ quân chủ chuyên chế trong điều kiện tương quan lực lượng chưa ngả hẳn về phía giai cấp tư sản.
- Về hạn chế, do phân quyền nên dễ dẫn tới sự tranh chấp, kìm hãm lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước nhằm giành quyền lợi nhiều hơn trong thực thi quyền lực nhà nước. Đồng thời nó cũng tạo nên sự giảm đồng bộ, thống nhất và gắn kết giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, thuyết phân chia quyền lực thực tế không phát huy được tác dụng trước đây của nó. Xu hướng tập trung hoá quyền lực đã hạn chế mặt tích cực của học thuyết.
3. Sự thể hiện của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước vừa phải bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả bộ máy nhà nước, vừa phải đảm bảo sự độc lập, chuyên môn hóa trong hoạt động của mỗi cơ quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan cũng như cả bộ máy nhà nước, đồng thời đảm bảo có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng lộng quyền, lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
"3.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp."