1. Quyền tác giả là gì?

Theo khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định:
“Quyền tác giả là quyền của những tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”
Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nghệ thuật nào
Quyền tác giả bao gồm những quyền mà pháp luật trao cho chủ sở hữu của tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên (thật hoặc bút danh) trên tác phẩm,…. Tác giả hoặc chủ sở hữu có quyền điều chỉnh hay truyền tải và phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm được sáng tác.
Quyền tác giả gắn với quyền nhân thân, theo quy định Luật sở hữu trí tuệ thì quyền nhân thân được quy định như sau

“Điều 19. Quyền nhân thân

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1. Đặt tên cho tác phẩm;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả."

Theo đó, quyền nhân thân gắn với bản thân tác giả , không thể chuyển giao ( có ngoại lệ ) ( công bố, cho phép sao chép...). Liên quan đến mối quan hệ của tác giả đối với tác phẩm( danh dự và danh tiếng) hơn là giá trị thương mại của tác phẩm , chỉ các cá nhân có quyền nhân thân và được bảo hộ vô thời hạn kể cả trong trường hợp tài sản được chuyển giao , có thể được thực thi khi tác giả qua đời .Tác giả có quyền đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả."

2. Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả

Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ hình thức chứ không phải là bảo hộ ý tưởng, ý tưởng ở đây là chủ đề thông điệp của tác phẩm khác với bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp là bảo vệ ý tưởng

2.1. Bảo đảm quyền tự do sáng tạo của cá nhân.

Công dân có quyền sáng tạo trên cơ sở được sự bảo hộ của Nhà nước, quy định như vậy nhằm mục đích loại trừ các tác phẩm có nội dung phản động, mê tín, hủ tục. Nhà nước đã tạo thế chủ động và tự do sáng tạo của cá nhân, điều này được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung của luật dân sự đặc biệt là nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận”. với quy định trên đây thì quyền tự do sáng tạo của cá nhân luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, khuyến khích tự do sang tạo, cấm cản trở, hạn chế quyền tự do sáng tạo của cá nhân.

2.2. Bảo đảm quyền bình đẳng, tự định đoạt của các chủ thể.

Nguyên tắc này là tư tưởng chỉ đạo và định hướng cho tất cả các ngành luật khi ghi nhận và bảo đảm quyền lợi chính đáng của cá nhân. Pháp luật quy định về quyền tác giả nói chung và quyền của người sáng tác văn học, nghệ thuật nói riêng. Mọi các nhân đều có quyền hoạt động, sáng tạo để tạo nên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học kể cả cá nhân đó là người nước ngoài. Tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt các quyền của mình có được từ tác phẩm. pháp luật về quyền tác giả luôn bảo đảm cho các chủ thể sử dụng, khai thác tác phẩm một cách hiệu quả nhất. khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng những biện pháp cưỡng chế để khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi bị xâm phạm về quyền tác giả.

2.3. Bảo đảm không trùng lặp tác phẩm.

Khi tác phẩm hay công trình khoa học đã hoàn thành và được công chúng biết đến thì việc sao chép sử dụng thành quả lao động một cách bất hợp pháp lại rất dễ dàng. Đặc tính này là một trong những nguyên nhân làm cho các tác phẩm sáng tạo trí tuệ sau khi được bộc lộ có thể lan truyền nhanh chóng và rộng khắp qua các phương tiện thông tin, kĩ thuật ngày càng hiện đại mà tác giả cũng không thể kiểm soát được. Nhưng khi tác phẩm hay công trình khoa học đã hoàn thành và được công chúng biết đến thì việc sao chép, sử dụng thành quả lao động này một cách bất hợp pháp là điều dễ dàng. Do vậy, nguy cơ bị xâm phạm rất lớn kéo theo việc xác định thiệt hại rất khó khăn, phức tạp bởi khả năng lan truyền nhanh chóng của việc sử dụng tác phẩm qua các phương tiện thông tin, điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sang tạo, thậm chí còn làm chậm sự phát triển.

Nội dung của nguyên tắc bảo đảm tính không trùng lặp được quy định như sau

Tác phẩm được pháp luật bảo hộ phải có tính sáng tạo, không phải là cách sắp xếp diễn đạt đơn thuần, bắt trước cách diễn đạt thể hiện ngôn từ, màu sắc khuôn mẫu.

Tác phẩm được bảo hộ phải là bản gốc (bản đầu tiên của tác phẩm do tác giả sang tạo ra). Điều đó không có nghĩa là chủ đề, nội dung hay ý tưởng của tác phẩm phải mới mà đặt ra cho người sáng tác hình thức thể hiện mới của ý tưởng đó và do tác giả sang tạo ra.

Bảo đảm tính toàn vẹn của tác phẩm. Trong các quyền nhân thân của tác giả có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm. Xâm phạm đến sự toàn vẹn của tác phẩm là xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả, bởi vì trong quá trình sáng tạo tác phẩm, tác giả đã có tư tưởng độc lập, những tư duy riêng của mình trong tác phẩm, cách sắp xếp, trình bày diễn đạt ý tưởng của tác giả theo ý của mình.

Bằng tài năng sáng tạo nên tác phẩm hay công trình khoa học của mình, các tác giả của những sản phẩm trí tuệ đó đều có các quyền về tinh thần và về vật chất như nhau. Các tác giả hoàn toàn có quyền định đoạt các quyền của mình có được từ tác phẩm. Pháp luật về quyền tác giả luôn bảo đảm cho các chủ thể sử dụng, khai thác tác phẩm một cách hiệu quả nhất. Khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng những biện pháp cưỡng chế để khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi bị xâm phạm về quyền tác giả.

3. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả được bảo hộ khi tác phẩm có tính sáng tạo ( tính nguyên gốc) và hình thức thể hiện tác phẩm ( tính định hình)

Tính nguyên gốc thể hiện ở chỗ kết quả lao động phải độc lập sáng tạo của tác giả, tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động chí tuệ của mình, không sao chép từ tác phẩm của người khác. Chứa đựng một hàm lượng sáng tạo nhất định không yêu cầu tác phẩm phải độc đáo có tính mới có giá trị cao về nghệ thuật thẩm mỹ => chỉ cần sáng tạo mức tối thiểu thể hiện cái gì riêng của tác giả. 

Tính định hình thể hiện dưới vật chất nhất định là sự biểu diễn bằng chữ viết , các ký tự khác, đường nét hình khối bố cục, màu sắc, âm thanh hình ảnh hoạc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép, truyền đạt

Được quy định tại Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chủ sở hữu, tác giả có đầy đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả gồm:
- Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và cũng là chủ sở hữu
- Là cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa công bố ở bất kỳ nước nào mới có đủ điều kiện đăng ký quyền tác giả.
- Là cá nhân và tổ chức Việt Nam, nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu ở nước khác.
- Là cá nhân và tổ chức nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều kiện bảo hộ về loại hình tác phẩm
Để có đủ điều kiện đăng ký bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm cần phải là đối tượng thuộc các loại hình quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ gồm có:
- Bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác;
- Tác phẩm báo chí, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu;
Tác phẩm tạo hình và ứng dụng mỹ thuật;
- Tác phẩm nhiếp ảnh, kĩ thuật kiến trúc;
- Bản họa đồ, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ  có liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
- Tác phẩm văn học, khoa học, giáo trình, sách giáo khoa và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc các ký tự khác;
- Nghệ thuật dân gian và tác phẩm văn học;
- Chương trình máy tính và bộ sưu tập dữ liệu;
- Tác phẩm phái sinh (nếu không có gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm dùng làm tác phẩm phái sinh)., tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn , chú giải tuyển chọn

4. Các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của cá nhân tổ chức đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Tuy nhiên, không phải bất cứ tác phẩm nào cũng được coi là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật SHTT 2005 sửa đổi 2009.
 
Theo Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi 2019

Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả:

1.Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo.

Tin tực thời sự thuần túy như đã được trình bày ở trên không mang tính sáng tạo, chỉ đơn giản là những bản tin, số liệu sự thật như dịch bệnh, tai nạn, tin tức xã hội hằng ngày mang tình nhất thời... Tuy nhiên bản tin thời sự có kèm bình luận, phân tích, nhận xét thể hiện sự sáng tạo về trí tuệ của tác giả thì vẫn được bảo hộc quyền tác giả.

2. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Các văn bản trên không được bảo họ quyền tác giả bởi những văn bản này mang tính quyền lực nhà nước mang tính phạm vi tác động tới toàn lãnh thổ của một quốc gia. Nên nếu được bảo hộ thì mọi người sử dụng phải xin phép chủ sở hữu, điều đó làm mất đi mục đích ban hành các loại văn bản này, là nhằm để phổ biến rộng khắp tới tất cả mọi người.

- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu không thành đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là vì nó không đảm bảo các điều kiện về tính sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.