Việc gia đình chỉ có hai mẹ con không đồng nghĩa với việc người con đương nhiên được miễn hoặc tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Pháp luật hiện hành không quy định hoàn cảnh "con một", "gia đình đơn chiếc" hay "nhà chỉ có hai mẹ con" là căn cứ độc lập để được miễn hoặc tạm hoãn gọi nhập ngũ.

Tuy nhiên, nếu người con là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng người mẹ không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động thì có thể được xem xét tạm hoãn gọi nhập ngũ. Để được giải quyết, công dân cần chứng minh hoàn cảnh thực tế và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định.

Các nội dung dưới đây được phân tích theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Dân quân tự vệ năm 2019 và Luật số 98/2025/QH15; Thông tư 148/2018/TT-BQP, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 68/2025/TT-BQP.

 

1. Quy định chung về đối tượng được miễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự

Theo Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có thể được xem xét tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc miễn gọi nhập ngũ trong thời bình nếu thuộc các trường hợp luật định.

Hai chế định này có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau.

Tạm hoãn gọi nhập ngũ là việc công dân được tạm thời chưa phải thực hiện lệnh gọi nhập ngũ do đáp ứng một trong những điều kiện được pháp luật quy định. Khi lý do tạm hoãn không còn, công dân vẫn có thể được gọi nhập ngũ nếu còn trong độ tuổi và đáp ứng các tiêu chuẩn tuyển quân.

Miễn gọi nhập ngũ là trường hợp công dân thuộc nhóm đối tượng được pháp luật quy định không phải thực hiện lệnh gọi nhập ngũ trong thời bình. Người được miễn vẫn có thể tình nguyện tham gia và được xem xét tuyển chọn nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.

Cụ thể, các trường hợp được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ gồm:

Các trường hợp được tạm hoãn gọi nhập ngũ

Theo khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.
  • Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.
  • Là một con của bệnh binh hoặc người nhiễm chất độc da cam bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.
  • Có anh, chị hoặc em ruột đang là hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ hoặc hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.
  • Thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.
  • Là cán bộ, công chức, viên chức hoặc thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
  • Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy tại cơ sở giáo dục đại học hoặc trình độ cao đẳng hệ chính quy tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.
  • Là dân quân thường trực.

Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ

Theo khoản 2 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình bao gồm:

  • Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một.
  • Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.
  • Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
  • Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.
  • Cán bộ, công chức, viên chức và thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ đủ 24 tháng trở lên.

Như vậy, có thể thấy pháp luật phân biệt rõ trường hợp được tạm hoãn và trường hợp được miễn gọi nhập ngũ. Đối với hoàn cảnh gia đình chỉ có hai mẹ con, căn cứ cần quan tâm chủ yếu là trường hợp người con làm lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động.

Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 41, khi lý do tạm hoãn không còn thì công dân có thể được gọi nhập ngũ trở lại. Công dân thuộc diện tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ nếu tình nguyện vẫn được xem xét tuyển chọn theo quy định.

Lưu ý, từ ngày 01/07/2025, Luật số 98/2025/QH15 đã sửa đổi Điều 42 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015. Theo đó, thẩm quyền quyết định tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, không còn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện như quy định trước đây.

 

2. Trường hợp nhà chỉ có 2 mẹ con có thuộc diện được miễn, tạm hoãn không?

Trường hợp gia đình chỉ có hai mẹ con không đương nhiên được miễn hoặc tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Pháp luật không lấy số lượng thành viên trong gia đình hoặc việc công dân là con một làm căn cứ độc lập để giải quyết chế độ này.

Để được tạm hoãn do hoàn cảnh gia đình, người con cần đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, cụ thể là phải là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động.

Trong trường hợp gia đình chỉ có hai mẹ con, cần xem xét tình trạng sức khỏe, khả năng lao động của người mẹ và vai trò thực tế của người con trong việc duy trì cuộc sống gia đình.

Có thể phân tích một số tình huống như sau:

Trường hợp thứ nhất: Mẹ không còn khả năng lao động, người con là người duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng

Ví dụ, người mẹ mắc bệnh nặng, bị khuyết tật hoặc gặp tình trạng sức khỏe khiến không còn khả năng lao động và không thể tự bảo đảm cuộc sống. Người con là người duy nhất có khả năng lao động, tạo thu nhập và trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ.

Trong trường hợp này, người con có cơ sở đề nghị xem xét tạm hoãn gọi nhập ngũ theo điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015. Tuy nhiên, việc có được chấp thuận hay không còn phụ thuộc vào kết quả xác minh hoàn cảnh và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp thứ hai: Mẹ đã hết tuổi lao động nhưng vẫn có khả năng lao động hoặc tự bảo đảm cuộc sống

Việc người mẹ đã đến tuổi nghỉ hưu không đồng nghĩa với việc người mẹ đương nhiên được xác định là không còn khả năng lao động.

Nếu người mẹ vẫn có sức khỏe, có thể lao động phù hợp với điều kiện của mình hoặc có nguồn bảo đảm cuộc sống thì cần xem xét cụ thể hoàn cảnh thực tế. Người con không đương nhiên được tạm hoãn chỉ vì mẹ đã hết tuổi lao động.

Trường hợp thứ ba: Mẹ còn trong độ tuổi lao động nhưng thường xuyên ốm đau

Nếu người mẹ mắc bệnh, sức khỏe suy giảm nghiêm trọng và không còn khả năng lao động thì người con vẫn có thể đề nghị xem xét tạm hoãn. Pháp luật không quy định người mẹ bắt buộc phải hết tuổi lao động mới được xem xét.

Điều quan trọng là phải có căn cứ chứng minh tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của người mẹ, đồng thời chứng minh người con là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng.

Trường hợp thứ tư: Mẹ còn khả năng lao động nhưng người con là người tạo ra thu nhập chính

Nếu người mẹ vẫn có khả năng lao động nhưng không có việc làm, thu nhập thấp hoặc người con là người đóng góp phần lớn kinh phí sinh hoạt thì chưa đủ căn cứ để xác định người con thuộc diện được tạm hoãn.

Cần phân biệt giữa người lao động chính và người lao động duy nhất. Người lao động chính là người tạo ra phần lớn thu nhập trong gia đình, trong khi người lao động duy nhất là người duy nhất đảm nhận việc lao động, trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân thuộc trường hợp luật định.

Trường hợp thứ năm: Gia đình có anh, chị, em ruột nhưng những người này không sống cùng nhà

Việc anh, chị, em ruột sinh sống ở địa phương khác hoặc đã tách hộ khẩu không tự động làm mất quyền đề nghị tạm hoãn của người con.

Cơ quan có thẩm quyền cần xem xét hoàn cảnh thực tế, khả năng lao động, việc thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng và mức độ phụ thuộc của người mẹ. Không thể chỉ căn cứ vào việc có anh, chị, em ruột ở nơi khác để kết luận người con không phải là lao động duy nhất.

Có thể khái quát một số tình huống như sau:

Hoàn cảnh gia đình

Khả năng được xem xét tạm hoãn

Chỉ có hai mẹ con, mẹ không còn khả năng lao động, con là người duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng

Có cơ sở đề nghị tạm hoãn

Mẹ đã hết tuổi lao động nhưng vẫn có khả năng lao động và tự bảo đảm cuộc sống

Không đương nhiên được tạm hoãn

Mẹ còn trong tuổi lao động nhưng bệnh tật khiến không còn khả năng lao động, con là người duy nhất nuôi dưỡng

Có cơ sở đề nghị tạm hoãn

Mẹ còn khả năng lao động nhưng không có việc làm, con là người tạo thu nhập chính

Chưa đủ căn cứ chỉ dựa trên tình trạng này

Gia đình thuộc hộ nghèo nhưng mẹ vẫn còn khả năng lao động

Không đương nhiên được tạm hoãn

Có anh, chị, em ruột ở xa nhưng người con vẫn là người duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng mẹ trên thực tế

Cần xác minh cụ thể hoàn cảnh

Như vậy, yếu tố quyết định không phải là gia đình có bao nhiêu người mà là người con có thực sự là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng người mẹ thuộc trường hợp được pháp luật bảo vệ hay không.

 

3. Các điều kiện để được xét miễn hoặc tạm hoãn nghĩa vụ quân sự do hoàn cảnh gia đình

Đối với trường hợp gia đình chỉ có hai mẹ con, căn cứ pháp lý phù hợp thường là tạm hoãn gọi nhập ngũ theo điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015.

Để được xem xét theo căn cứ này, công dân cần làm rõ những nội dung sau:

Thứ nhất, công dân phải thực sự là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân

Đây là điều kiện quan trọng để xác định người con có thuộc trường hợp được tạm hoãn hay không.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét người con có phải là người duy nhất đảm nhận việc lao động, tạo thu nhập và trực tiếp bảo đảm cuộc sống cho người mẹ hay không. Việc người con có công việc ổn định hoặc là người kiếm được nhiều tiền nhất trong gia đình chưa đủ để chứng minh điều kiện này.

Ngoài ra, cần phân biệt việc có người thân khác trong gia đình với việc có người thực tế có khả năng lao động và trực tiếp thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng. Chẳng hạn, nếu gia đình còn anh, chị, em ruột thì cần làm rõ khả năng lao động, điều kiện sinh sống và việc thực hiện trách nhiệm chăm sóc mẹ của những người này.

Thứ hai, người mẹ phải thuộc trường hợp không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động

Điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 xác định hai nhóm thân nhân mà người lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng, gồm:

  • Thân nhân không còn khả năng lao động.
  • Thân nhân chưa đến tuổi lao động.

Đối với trường hợp người mẹ không còn khả năng lao động, cần có tài liệu chứng minh tình trạng sức khỏe và khả năng lao động thực tế. Có thể sử dụng các giấy tờ như hồ sơ bệnh án, giấy ra viện, giấy chứng nhận khuyết tật, kết luận giám định y khoa hoặc tài liệu y tế phù hợp khác.

Cần lưu ý, pháp luật về nghĩa vụ quân sự không quy định người mẹ bắt buộc phải suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mới được xem xét tạm hoãn theo trường hợp này. Mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên là điều kiện được đề cập đối với một số trường hợp miễn gọi nhập ngũ theo điểm c khoản 2 Điều 41, không phải điều kiện chung áp dụng cho người mẹ trong trường hợp lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng.

Tương tự, việc người mẹ đã hết tuổi lao động cũng không tự động đồng nghĩa với việc đáp ứng điều kiện. Cần xem xét khả năng lao động và hoàn cảnh thực tế theo căn cứ pháp luật tương ứng.

Thứ ba, hoàn cảnh gia đình phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận

Theo điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 và nội dung được sửa đổi tại Thông tư 68/2025/TT-BQP, trường hợp lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân thuộc diện luật định cần được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.

Việc xác nhận là cơ sở để cơ quan quân sự và cơ quan có thẩm quyền xem xét hoàn cảnh thực tế của công dân. Nội dung xác nhận cần thể hiện được tình trạng gia đình, tình trạng của người mẹ và vai trò của người con trong việc trực tiếp nuôi dưỡng.

Thứ tư, công dân phải thuộc độ tuổi và đáp ứng các điều kiện tuyển quân theo quy định

Việc được xem xét tạm hoãn do hoàn cảnh gia đình không đồng nghĩa với việc công dân được miễn hoàn toàn nghĩa vụ quân sự.

Theo Điều 30 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình là từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi. Đối với công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ do đào tạo trình độ cao đẳng, đại học thì độ tuổi gọi nhập ngũ có thể kéo dài đến hết 27 tuổi.

Bên cạnh đó, công dân vẫn phải đáp ứng các tiêu chuẩn tuyển quân theo quy định, trừ trường hợp được tạm hoãn hoặc miễn gọi nhập ngũ theo căn cứ pháp luật.

Tóm lại, để được xem xét tạm hoãn do hoàn cảnh gia đình, người con cần chứng minh được vai trò lao động duy nhất và trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng người mẹ không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động. Không nên chỉ dựa vào giấy xác nhận hộ nghèo, việc mẹ không có việc làm hoặc hoàn cảnh gia đình chỉ có hai người để kết luận đủ điều kiện.

 

4. Thủ tục hồ sơ xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự khi là lao động duy nhất trong gia đình

Khi cho rằng bản thân thuộc trường hợp lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động, công dân nên chủ động chuẩn bị tài liệu chứng minh và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Từ ngày 01/07/2025, Luật số 98/2025/QH15 đã sửa đổi thẩm quyền quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ. Theo Điều 42 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 đã được sửa đổi, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ đối với công dân thuộc trường hợp quy định tại Điều 41.

Hồ sơ đề nghị xem xét tạm hoãn gọi nhập ngũ

Pháp luật không quy định một danh mục hồ sơ thống nhất với tất cả trường hợp xin tạm hoãn do hoàn cảnh gia đình. Tuy nhiên, để chứng minh điều kiện của mình, công dân có thể chuẩn bị các giấy tờ sau:

  • Đơn đề nghị xem xét tạm hoãn gọi nhập ngũ, trong đó trình bày rõ hoàn cảnh gia đình, tình trạng của người mẹ và lý do bản thân là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng mẹ.
  • Bản sao giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ mẹ con.
  • Giấy tờ chứng minh tình trạng sức khỏe của người mẹ như hồ sơ bệnh án, giấy ra viện, giấy chứng nhận khuyết tật, kết luận giám định y khoa hoặc tài liệu y tế có liên quan.
  • Tài liệu chứng minh hoàn cảnh gia đình và việc người con trực tiếp nuôi dưỡng mẹ, chẳng hạn giấy tờ về cư trú, xác nhận hoàn cảnh thực tế của địa phương, tài liệu thể hiện nguồn thu nhập và điều kiện sinh sống.
  • Bản sao giấy tờ tùy thân của công dân và người mẹ để phục vụ việc đối chiếu, xác minh.
  • Giấy xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc tài liệu khác về hoàn cảnh kinh tế của gia đình nếu có.

Các giấy tờ nêu trên có mục đích hỗ trợ việc xác minh. Không nên hiểu rằng mọi trường hợp đều bắt buộc phải có kết luận giám định suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc phải có giấy chứng nhận hộ nghèo mới được xem xét.

Trình tự thực hiện

Có thể thực hiện việc đề nghị xem xét tạm hoãn theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị đơn và tài liệu chứng minh hoàn cảnh gia đình

Công dân cần trình bày rõ các thông tin cơ bản:

  • Gia đình hiện có những thành viên nào.
  • Người mẹ có tình trạng sức khỏe và khả năng lao động ra sao.
  • Người con có phải là người duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng mẹ hay không.
  • Nguồn thu nhập chính của gia đình đến từ đâu.
  • Nếu người con nhập ngũ thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng người mẹ sẽ gặp khó khăn như thế nào.

Nội dung trình bày cần trung thực, thống nhất với các giấy tờ chứng minh kèm theo.

Bước 2: Gửi hồ sơ đến cơ quan quân sự cấp xã để được hướng dẫn, xác minh

Công dân có thể liên hệ Ban Chỉ huy quân sự cấp xã nơi đăng ký nghĩa vụ quân sự để nộp tài liệu và đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình.

Theo quy định hiện hành, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác nhận trường hợp thuộc diện lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân theo quy định. Vì vậy, công dân nên đề nghị cơ quan quân sự cấp xã hướng dẫn việc tiếp nhận hồ sơ, xác minh và lập danh sách theo quy trình tuyển quân tại địa phương.

Bước 3: Cơ quan có thẩm quyền xác minh và xem xét điều kiện tạm hoãn

Cơ quan chức năng sẽ xem xét các tài liệu do công dân cung cấp, xác minh tình trạng sức khỏe và khả năng lao động của người mẹ, đồng thời đánh giá vai trò thực tế của người con trong việc nuôi dưỡng.

Nếu đáp ứng điều kiện, trường hợp của công dân sẽ được tổng hợp, báo cáo theo quy trình xét duyệt tạm hoãn gọi nhập ngũ.

Bước 4: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ

Theo Điều 42 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 98/2025/QH15, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ.

Danh sách công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ phải được công khai trên cổng thông tin điện tử cấp xã và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức và nơi sinh hoạt cộng đồng trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký quyết định, theo quy định tại Thông tư 148/2018/TT-BQP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 68/2025/TT-BQP.

Một số lưu ý khi đề nghị tạm hoãn

  • Nên chủ động liên hệ Ban Chỉ huy quân sự cấp xã ngay khi địa phương triển khai rà soát công dân trong độ tuổi gọi nhập ngũ, không nên chờ đến sát ngày giao quân mới chuẩn bị hồ sơ.
  • Nếu đã nhận được quyết định gọi khám sức khỏe hoặc quyết định gọi nhập ngũ, công dân vẫn cần thực hiện đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong khi đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình.
  • Việc nộp đơn hoặc hồ sơ đề nghị tạm hoãn không đồng nghĩa với việc công dân đã được tạm hoãn. Chỉ khi có quyết định của người có thẩm quyền thì mới có căn cứ xác định công dân thuộc diện tạm hoãn.
  • Nếu hoàn cảnh gia đình thay đổi hoặc lý do tạm hoãn không còn, công dân có thể được gọi nhập ngũ trở lại nếu vẫn trong độ tuổi luật định.

Ngoài ra, công dân cần lưu ý quy định xử phạt tại Nghị định 218/2025/NĐ-CP. Theo Điều 10 của Nghị định này, hành vi gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe đủ điều kiện có thể bị phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Hành vi không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng, tùy trường hợp. Nghị định có hiệu lực từ ngày 05/08/2025.

Như vậy, gia đình chỉ có hai mẹ con không phải là căn cứ đương nhiên để người con được miễn hoặc tạm hoãn nghĩa vụ quân sự. Người con có thể được xem xét tạm hoãn nếu chứng minh được mình là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng người mẹ không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động. Việc xác định điều kiện cần dựa trên hoàn cảnh thực tế, tài liệu chứng minh và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã; quyết định tạm hoãn thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: