- 1. Sự hình thành chức danh pháp lý Cán bộ điều tra
- 2. Tiêu chuẩn để trở thành Cán bộ điều tra trong Cơ quan Điều tra
- 3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra
- 4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ điều tra trong Cơ quan Điều tra
- 5. Cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Sự hình thành chức danh pháp lý Cán bộ điều tra
Trước khi có BLTTHS năm 2015, Cán bộ điều tra trong thực tế đã tồn tại là cán bộ, chiến sĩ của Cơ quan điều tra tham gia vào một số hoạt động điều tra vụ án hình sự mang tính chất “sự vụ”, nhưng không quy định trong tố tụng hình sự là người tiến hành tố tụng, vì vậy gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra.
Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/7/2014 của Bộ Công an không quy định riêng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân mà quy định chung nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra. Theo Điều 29 thì “cán bộ điều tra phải thực hiện đúng, đầy đủ các văn bản chỉ đạo của Đảng, quy định của pháp luật và của Bộ Công an có liên quan đến công tác điều tra hình sự”; phải học tập nâng cao trình độ chính trị, pháp luật...nghiệp vụ điều tra để hoàn thành nhiệm vụ, phải thực hiện đúng, đầy đủ các chỉ thị, mệnh lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công trực tiếp chỉ đạo điều tra vụ án; giúp việc cho Điều tra viên trong thực hiện các hoạt động điều tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi của mình. Thông tư còn quy định: Trách nhiệm giữ bí mật tin tức, tài liệu điều tra (Điều 30). Những việc cán bộ điều tra không được làm (Điều 31). Đây là những quy định ban đầu chưa cụ thể, chi tiết, vì thế đã dẫn đến bất cập trong quá trình thực hiện.
Khắc phục những hạn chế trong thực tế của hoạt động điều tra, BLTTHS năm 2015 quy định Cán bộ điều tra là một chức danh pháp lí của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, tại khoản 2 Điều 34 và khoản 2 Điều 35 với tư cách là người tiến hành tố tụng, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Trong Bộ luật này, Cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong cả hai giai đoạn tố tụng: giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra.
2. Tiêu chuẩn để trở thành Cán bộ điều tra trong Cơ quan Điều tra
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 46 của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 có thể được bổ nhiệm làm Cán bộ Điều tra để giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động Điều tra hình sự. Cụ thể như sau:
- Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Có trình độ đại học An ninh, đại học Cảnh sát hoặc cử nhân luật trở lên.
- Có thời gian làm công tác pháp luật theo quy định của Luật này.
- Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra
Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Cán bộ điều tra thuộc Công an nhân dân do Bộ trưởng Bộ Công an quy định, thuộc Quân đội nhân dân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định, ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.
Ví dụ: với Cán bộ điều tra trong Quân đội nhân dân
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ủy quyền cho Thứ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Cán bộ điều tra.
Cán bộ điều tra có thể được miễn nhiệm chức danh vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Cán bộ điều tra có thể bị cách chức danh nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Vi phạm trong công tác điều tra vụ án hình sự;
- Vi phạm quy định tại Điều 14 Luật Tổ chức cơ quan điều tra bình sự;
- Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, giáng chức;
- Vi phạm về phẩm chất đạo đức.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ điều tra trong Cơ quan Điều tra
- Khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra đó là: Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công của Điều tra viên: ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi các biên bản khác khi Điều tra viên tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và điều tra vụ án hình sự; giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; giúp Điều tra viên trong việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện hoạt động tố tụng khác.
Đây là những nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chất “sự vụ” của hoạt động tố tụng và chỉ được thực hiện khi có “sự phân công của Điều tra viên”. Nói cách khác, Điều tra viên sẽ phân công cho Cán bộ điều tra những công việc phù hợp với năng lực, phẩm chất của họ trên cơ sở yêu cầu giải quyết vụ án trong phạm vi và giới hạn các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại điều luật này.
- Khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Cán bộ điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên về hành vi của mình”. Như vậy, bên cạnh việc phải chịu trách nhiệm trước người trực tiếp giao nhiệm vụ là Điều tra viên, Cán bộ điều tra còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
5. Cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm Cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khác với nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra. Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều ra do Thủ trưởng cơ quan phân công theo từng vụ, việc. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ điều tra ở các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng không giống nhau, có thể phân thành 2 nhóm như sau:
Nhóm 1 gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển và Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Đối với Cán bộ điều tra của nhóm 1 có 4 nhiệm vụ, quyền hạn:
- Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
- Lập hồ sơ vụ án hình sự;
- Hỏi cung bị can; lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại, đương sự;
- Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án.
Lưu ý: Cán bộ điều tra khi thực hiện nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình; cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho Cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (khoản 4, 5, Điều 39 BLTTHS năm 2015). Cán bộ điều tra nhóm này thực hiện một số hoạt động điều tra độc lập (hỏi cung, lấy lời khai, lập hồ sơ vụ án) đòi hỏi tính chủ động cao. Các hoạt động điều tra của Cán bộ điều tra nhóm này được thực hiện trong 2 loại thời hạn: 01 tháng (đối với tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ, lai lịch người phạm tội rõ ràng) và 7 ngày (đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp).
Đối với nhóm này, Cán bộ điều tra được thực hiện một số hoạt động điều tra như hỏi cung, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường...tương tự như một số nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, vì vậy đòi hỏi họ phải trang bị cho mình đầy đủ kiến thức chuyên môn, khả năng làm việc chủ động, độc lập, quyết đoán để xử lý đảm bảo chính xác trong thời gian nhanh nhất, mà vẫn đạt chất lượng, hiệu quả.
Nhóm 2 gồm: các cơ quan của Công an nhân dân và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm hạn chế hơn so với nhóm 1, họ chỉ thực hiện các hoạt động về thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, một số hoạt động điều tra ban đầu, sau đó chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền điều tra trong thời hạn 7 ngày. Cụ thể có 5 nhiệm vụ, quyền hạn:
- Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
- Lập hồ sơ vụ án hình sự;
- Lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
- Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
- Giao, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này. Cán bộ điều tra các cơ quan này khi được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho Cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (khoản 3, 4, Điều 40 BLTTHS năm 2015).
Cán bộ điều tra là lực lượng đông đảo thực hiện hoạt động tố tụng trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự, là đội ngũ có vai trò quan trọng trong đấu tranh chống tội phạm. Thực hiện tốt quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình, Cán bộ điều tra sẽ góp phần tích cực cho đấu tranh phòng, chống tội phạm.