1. Tìm hiểu về nhu cầu thực tế

Nhu cầu theo nghĩa thông thường chính là những yêu cầu cực kỳ cần thiết đối với con người nhằm hướng tới một cuộc sống đủ đầy và lành mạnh. Đồng thời đây cũng là khái niệm cơ bản nhất, gồm các yếu tố như: văn hóa, xã hội, tâm lý, cá nhân,…những điều này thực sự cần thiết đối với sự tồn tại của một thực thể. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng là một hiện tượng tâm lý, khiến con người có cảm giác đòi hỏi, nguyện vọng về những thứ vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy thuộc vào môi trường sống, trình độ nhận thức cũng như những đặc điểm tâm sinh lý mà con người sẽ có những nhu cầu khác nhau. Khi nhu cầu càng cấp bách thì chúng càng có khả năng chi phối con người. Nếu chúng ta kiểm soát được nhu cầu của bản thân thì cũng có nghĩa là bạn đã kiểm soát được cá nhân mình (nếu có nhận thức cao sẽ có thể kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu). 

Bên cạnh thuật ngữ gốc nhu cầu, người ta còn nhắc tới một thuật ngữ liên quan khác là nhu cầu thực tế. Nhu cầu thực tế hay còn gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán (effective demand) là mong muốn, nguyện vọng, yêu cầu về một sản phẩm dựa trên sức mua nhất định. Trong phân tích kinh tế, nhu cầu luôn luôn được coi là nguyện vọng và khả năng mua hàng, chứ không chỉ dựa trên nguyện vọng muốn có sản phẩm. Tổng số nhu cầu về một sản phẩm được biểu thị bằng đường cầu. Đây là cách lý giải khái niệm theo Từ điển kinh tế học của trường đại học Kinh tế quốc dân.

Trong kinh tế, nhu cầu thực tế trên thị trường còn được hiểu là nhu cầu cho một sản phẩm hoặc dịch vụ xảy ra khi người mua bị hạn chế ở một thị trường khác. Nó tương phản với nhu cầu mơ tưởng (notional demand), là nhu cầu xảy ra khi người mua không bị hạn chế ở bất kỳ thị trường nào khác. Trong thị trường tổng hợp cho hàng hóa nói chung, nhu cầu được gọi là tổng cầu. Khái niệm về cung ứng thực tế (effective supply) luôn song hành với khái niệm về nhu cầu thực tế. Khái niệm về cầu hoặc cung thực tế được quan tâm khi thị trường không liên tục duy trì giá cân bằng.

Xem thêm: Nhu cầu phái sinh (derived demand) là gì? 

 

2. Yếu tố nào ảnh hường tới nhu cầu thực tế?

 Nhóm yếu tố thuộc về nhu cầu nói chung:

Nhu cầu là cơ sở của nhu cầu có khả năng thanh toán, do vậy các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu cũng tác động tới quy mô, cơ cấu nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và xã hội.

Các yếu tố về dân cư, điều kiện sinh hoạt và lao động của con người: Nhìn chung số dân càng đông, số người trong mỗi gia đình càng lớn thì nhu cầu về hàng hóa càng tăng. Thay đổi quy mô dân số và số người trong mỗi gia đình còn ảnh hưởng tới cơ cấu nhu cầu có khả năng thanh toán. Thông thường thu nhập thấp, nhưng số dân đông, số thành viên trong gia đình lớn thì hướng chi tiêu cho hàng lương thực, thực phẩm sẽ cao. Trong trường hợp ngược lại, sẽ chi tiêu cho mua hàng phi lương thực, thực phẩm nhiều hơn.

Các sở thích, tập quán, thói quen tiêu dùng: Các yếu tố tâm lý, sở thích của con người, tập quán, thói quen tiêu dùng của dân cư, kỳ vọng của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng theo hướng kích thích hoặc hạn chế nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội.

Các điều kiện về tự nhiên: Sự biến đổi của môi trường tự nhiên, thời tiết khí hậu… đều có ảnh hưởng tới nhu cầu và nhu cầu có khả năng thanh toán.

 Nhóm yếu tố về thu nhập và phân phối thu nhập của dân cư, của xã hội: 

Thu nhập bằng tiền tăng lên, thì thường nhu cầu có khả năng thanh toán sẽ mở rộng và cơ cấu của nhu cầu cũng thay đổi theo hướng sử dụng nhiều hàng phi lương thực, thực phẩm hơn và ngược lại

Ngoài ra, hướng sử dụng thu nhập bằng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô và cơ cấu chi tiêu của dân cư, của xã hội để mua hàng hoá trên thị trường. Nếu dân cư giảm dự trữ hoặc không gửi tiết kiệm tiền mặt thì chi tiêu mua hàng hoá và thanh toán dịch vụ sẽ tăng lên. Nếu giảm chi tiêu cho dịch vụ thì nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và xã hội về hàng hoá sẽ tăng và ngược lại.

 Nhóm yếu tố về sản xuất, cung ứng:

Sản xuất và cung ứng có sự phù hợp về quy mô, cơ cấu và chất lượng hàng hóa cũng như tính đều đặn, đảm bảo tiến độ thời gian giao hàng theo yêu cầu của thị trường sẽ làm tăng nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội và ngược lại. Hoạt động sản xuất, cung ứng với tính ổn định càng cao và chi phí càng thấp càng kích thích làm tăng nhu cầu có khả năng thanh toán.

Nhóm yếu tố về giá cả, thị trường và cạnh tranh:

Giá hàng tiêu dùng tăng thông thường làm hạn chế hoặc giảm nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và ngược lại. Giá các mặt hàng bổ sung gia tăng sẽ không kích thích nhu cầu có khả năng thanh toán. Giá mặt hàng thay thế giảm sẽ làm chuyển dịch nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư sang mặt hàng thay thế đó.

Hạ tầng của thị trường về kỹ thuật, về dân cư và pháp lý, dung lượng thị trường, quan hệ cung cầu, xu hướng cạnh tranh về chất lượng, về dịch vụ hỗ trợ như quảng cáo, tư vấn, giao nhận, … đều ảnh hưởng tới nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư và xã hội.

 Nhóm yếu tố về chính sách điều tiết vĩ mô của Chính phủ: 

Chính sách của Chính phủ có thể điều tiết cung, cầu và mối quan hệ đó, cũng như giá cả. Xu hướng các tác động từ chính sách vĩ mô của Chính phủ là nhằm kích cung hoặc kích cầu và cải thiện mối quan hệ đó, bình ổn giá cả để đáp ứng tốt hơn các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

 

3. Phân biệt giữa nhu cầu và mong muốn

Mong muốn là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù đòi hỏi được đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hoá và tính cách cá nhân của con người. Nhu cầu tự nhiên là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.

Ở khía cạnh kinh tế, chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng người hoặc tập hợp người, nhà kinh doanh mới tạo ra được những thuộc tính đặc thù của sản phẩm, từ đó nâng cao khả năng thích ứng, khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như hiệu quả kinh doanh.

Có thể thấy rằng, thuật ngữ mong muốn và thuật ngữ nhu cầu rất dễ gây nhầm lẫn với nhau thông qua hai khái niệm được đề cập. Tuy nhiên, thông qua nhiều nghiên cứu, người ta đã chỉ ra sự khác biệt giữa chúng căn cứ vào một số điểm sau:

Tiêu chí

Nhu cầu

Mong muốn

Ý nghĩa

Nhu cầu đề cập đến yêu cầu cơ bản của một cá nhân phải được đáp ứng, để tồn tại.

Muốn được mô tả là hàng hóa và dịch vụ, mà một cá nhân muốn có, như là một phần của ma trận của mình.

Phạm vi

Hạn chế

Vô hạn

Tính chất

Một cái gì đó bạn phải có.

Một cái gì đó bạn muốn có.

Đại diện

Sự cần thiết

Khao khát

Sự sống còn

Cần thiết

Vô dụng

Thay đổi

Có thể không đổi theo thời gian.

Có thể thay đổi theo thời gian.

Không hoàn thành

Có thể dẫn đến khởi phát bệnh hoặc thậm chí tử vong.

Có thể dẫn đến thất vọng.

Ví dụ

Một sinh viên đại học lựa chọn phương tiện để di chuyển đến các địa điểm trong thành phố: Lúc này, nhu cầu sẽ là sự di chuyển, đi lại giữa trường đại học, nơi làm thêm,... Nhu cầu này xuất phát từ cảm giác thiếu hụt sự tiện lợi và nhanh chóng để đáp ứng thời gian biểu cho các công việc hàng ngày. 

Một sinh viên đại học lựa chọn phương tiện để di chuyển đến các địa điểm trong thành phố: Lúc này, bạn rất muốn có một chiếc xe vision trắng để có thể thỏa mãn nhu cầu bức thiết đó bởi sự thanh lịch ở dáng xe, khả năng tiết kiệm xăng và động cơ xe vừa đủ mạnh.

Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề nhu cầu thực tế hay nhu cầu có khả năng chi trả (effective demand) là gì? mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết về chủ đề Lý thuyết nhu cầu tiền tệ của Milton Friedman của chúng tôi. Còn bất kỳ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác cùng với quý khách hàng. Trân trọng./.