- 1. Tự do hóa thương mại có ý nghĩa như thế nào?
- 2. Những thỏa thuận thương mại giữa khu vực và WTO
- 2.1. Thỏa thuận miễn trừ đối với các liên minh thuế quan.
- 2.2 Thỏa thuận về ưu đãi thương mại.
- 2.3. Thỏa thuận ưu đãi đặc biệt với các nước đang phát triển
- 2.4. Thỏa thuận tự do hóa thương mại trong các ngành dịch vụ.
1. Tự do hóa thương mại có ý nghĩa như thế nào?
Người ta thường lập luận rằng chủ nghĩa khu vực là mối đe doạ đến hệ thống thương mại đa phương. Thực sự rằng quyền lợi không của bên nào (non-parties) sẽ đồng thời xói mòn khi các rào cản thương mại giữa các bên trong các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) bị huỷ bỏ.
Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.
Những kinh nghiệm của hơn 40 năm qua trong việc hội nhập khu vực ở châu Âu đã chứng minh ngược lại rằng việc tự do hoá hơn nữa giữa các đối tác thương mại khu vực không chỉ có lợi cho các thành viên trong những thoả thuận khu vực như vậy, mà còn làm tăng các cơ hội kinh doanh của các bên thứ ba, do đó bổ sung cho tự do hoá trong hệ thống thương mại đa phương. Đa số các nước hoạt động thương mại chủ yếu ngày nay đều là thành viên trong một hay nhiều hiệp định thương mại khu vực. Họ còn cam kết đầy đủ tự do hoá thương mại hơn nữa trên cơ sở toàn cầu cũng như làm cho các quy tắc thương mại đa phương có hiệu lực.
2. Những thỏa thuận thương mại giữa khu vực và WTO
2.1. Thỏa thuận miễn trừ đối với các liên minh thuế quan.
Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) bảo đảm rằng các cam kết đưa ra trong quá trình của các vòng đàm phán thương mại được thống nhất áp dụng giữa thành viên này với các thành viên khác của WTO.
Trong đoạn 2 Điều I của GATT miễn trừ đối xử tối huệ quốc trong một số thoả thuận ưu đãi vốn được thi hành tại thời gian GATT hình thành. Điều khoản then chốt của GATT cho phép miễn trừ đối với các liên minh thuế quan và FTAs chính là Điều XXIV. Điều khoản này định nghĩa những đặc điểm của các hiệp định ưu đãi, đặt ra các tiêu chí và bao gồm các yêu cầu minh bạch đối với những hiệp định đã đề nghị, cần lưu ý đặc biệt để tránh những tác động ngược về thương mại với các nước thứ ba.
Chẳng hạn: trong trường hợp các nước thành viên của liên minh thuế quan muốn tăng thuế khi chấp nhận biểu thuế đối ngoại chung. Điều XXIV cũng quy định các hiệp định tạm thời, cho phép các bên của liên minh thuế quan hoặc FTAs thực hiện mục tiêu tối hậu của những hiệp định như vậy — tức là, hoặc liên minh thuế quan đầy đủ hoặc thương mại tự do - trong một thời hạn hợp lý, để việc điều chỉnh là khả thi và có thể chấp nhận được về chính trị. Bản ghi nhớ của Vòng Uruguay về việc diễn giải Điều XXIV khuyến nghị rằng thời hạn cho các hiệp định tạm thời sẽ không vượt quá 10 năm.
Để phù hợp với đoạn 8 của Điều XXIV, các bên của liên minh thuế quan và khu vực thương mại tự do phải loại bỏ thuế nhập khẩu và các quy định hạn chế thương mại khác liên quan đến “phần chủ yếu trong toàn bộ thương mại” giữa các lãnh thổ thuế quan hợp thành. Trong khi diễn giải các định nghĩa then chốt trong Điều XXIV như “phần chủ yếu trong toàn bộ thương mại” và “các quy định thương mại khác” còn là điểm bất đồng trong GATT thì chắc chắn có thể kết luận rằng Điều XXIV đem lại một yếu tố niềm dẻo liên quan đến sản phẩm, ngành hay phạm vi thương mại của hiệp định.
Ngoài ra, các bên tham gia hiệp định có thể duy trì một số nghĩa vụ hoặc hạn chế khác theo các điều khoản sau đây của GATT: Điều XI (Loại trừ chung về Hạn chế Số lượng), Điều XII (Những hạn chế đối với việc bảo vệ cán cân thanh toán), Điều XIII (Quản lý Không phân biệt đối xử về Hạn chế So lượng), Điều XIV (Những Ngoại lệ đối với Quy tắc Không phân biệt đối xử), Điều XV (Các Thoả thuận về Ngoại hối) và Điều XX (Các Ngoại lệ chung).
2.2 Thỏa thuận về ưu đãi thương mại.
Tất cả thành viên WTO quyết định tham gia liên minh thuế quan hay khu vực mậu dịch tự do, hoặc một hiệp định tạm thời dẫn đến việc thành lập một liên minh hoặc một khu vực như vậy, họ buộc phải thông báo “ngay lập tức” cho các thành viên khác của WTO. RTAs đưa ra các điều kiện ưu đãi thương mại giữa các bên, có thể và thường được ký kết giữa các bên không phải là thành viên của WTO.
Trong những năm 90, các hiệp định thương mại khu vực tăng nhanh, và được minh hoạ bằng phần sưu tập các RTAs trong phụ lục kèm theo. Các hiệp định đã thông báo theo Điều XXIV của GATT còn lệ thuộc vào việc khảo sát kỹ lưỡng mà hiện nay được thực hiện dưới hình thức kiểm tra trong uỷ ban Hiệp định Thương mại Khu vực (CRTA). Việc cải tiến thông báo, tính minh bạch và các thủ tục giám sát hiện thời còn lệ thuộc vào sự đế tranh luận trong CRTA, nhưng một vài bước đi đã được thực hiện theo hướng này: các bên cho rằng phải thông báo hiệp định nhanh chóng và cung cấp các thông tin cơ bản về hiệp định theo một khuôn mẫu tiêu chuẩn đã thoả thuận.
Thực tế, trong quá khứ chứng minh rằng việc kiểm tra các khu vực thương mại tự do thường không dẫn đến sự đồng thuận về tính nhất quán của hiệp định với các quy tắc liên quan của GATT/WTO; chỉ trong một vài trường hợp ngoại lệ thấy các hiệp định phù hợp với Điều XXIV. Thường thường sự bất đồng ý kiến liên quan đến mức độ bao quát của hiệp định, đặc biệt khi hiệp định loại trừ hoặc chỉ bao gồm một số ngành nhất định, phổ biến nhất là nông nghiệp.
Mặt khác, việc kiểm tra của liên minh thuế quan thường tập trung vào các điều khoản của hiệp định lẫn các yêu cầu đền bù có thể xảy ra của các bên không tham gia hiệp định liên minh thuế quan do tăng thuế suất ràng buộc trong GATT phát sinh từ việc đưa ra biểu thuế đối ngoại chung. Bản ghi nhớ của Vòng Uruguay liên quan đến Điều XXIV làm rõ một so khía cạch liên quan đến việc hình thành liên minh thuế quan như đã quy định trong khoản 5 và 6 của Điều XXIV, cũng như tính minh bạch trong mối quan hệ với các điều khoản giải quyết tranh chấp.
2.3. Thỏa thuận ưu đãi đặc biệt với các nước đang phát triển
Một trong các vấn đề không thay đổi được đề cập trong hệ thống GATT và đang là trọng điểm trong WTO là việc đối xử đặc biệt về lợi ích thương mại và những vấn đề quan tâm đối với các nước đang phát triển, vấn đề này được thảo luận lần đầu năm 1958 trong cái gọi là “báo cáo Haberler” về “Các xu thế trong thương mại quốc tế”, dẫn đến việc công nhận tuyên bố về “Xúc tiến Thương mại của các Nước Chậm Phát triển” năm 1961, và việc lập ra một Chương trình công tác đặc biệt. Kết quả của chương trình này là một Hiệp định chung được sửa đổi năm 1965 bằng việc đưa ra Phần IV như “một khung pháp lý và thể chế tương xứng, cho phép các Bên ký kết hoàn thành các trách nhiệm của họ liên quan đến hoạt động mở rộng thưong mại của các nước chậm phát triển”. Các điều khoản mới của GATT: Điều XXXVI (Các nguyên tắc và mục đích), XXXVII (Các cam kết), XXXVIII (Hoạt động phối hợp) đề ra cơ sở cho việc mở rộng việc đối xử ưu đãi (giữa nước phát triển với nước đang phát triển, giữa các nước đang phát triển với nhau) mà không cần viện dẫn đến việc vi phạm MFN đã cho phép theo các tiêu chí nghiêm ngặt tại Điều XXIV. Song song với những bước phát triển này, một uỷ ban đặc biệt được thành lập năm 1964 để thực hiện việc “tiếp tục theo dõi việc áp dụng các điều khọản của Phần IV”.
Sau này, do kết quả đàm phán của Vòng Tokyo, các Bên Ký kết công nhận Quyết định về “Đối xử có Phân biệt và Đối xử Thuận lợi hơn, Có đi Có lại và Tham gia Đầy đủ của các Nước Đang phát triển” được làm rõ tại các điều khoản của Phần IV bằng việc tuyên bó rằng “mặc dù các quy định trong Điều 1 (MFN) của Hiệp định chung, cảc bên ký kết có thể chấp nhận việc đối xử phân biệt hay thuận lợi hon - thường được gọi là đối xử đặc biệt và có phân biệt (S&D) - đối với các nước đang phát triển mà không áp dụng cách đối xử như với các nước ký kết khác”. Cái gọi là “Điều khoản Cho phép” trong đoạn 2 còn ghi rõ các tình huống có thể áp dụng:
a.Các nước phát triển chấp thuận hiệp định đối xử thuế quan ưu đãi đối với các sản phẩm có xuất xứ tại các nước đang phát triển, phù hợp với Hệ thống Ưu đãi Chung (GSP);
b. Việc đối xử có phân biệt và thuận lợi hon liên quan đến các điều khoản của Hiệp định chung về các Biện pháp Phi thuế được điều chỉnh bởi các điều khoản của công cụ đa phương đã đàm phán dưới sự bảo trợ của GATT (Các Hiệp định Vòng Tokyo);
c. Những hiệp định khu vực và toàn cầu đưa vào các bên tham gia thuộc các nước ký kết chậm phát triển đê cùng cắt giảm hoặc loại bỏ các biện pháp thuế quan và phi thế quan.
d. Đối xử đặc biệt của các nước đang phát triển đối với các nước chậm phát triển nhất.
Để phù hợp với điều khoản nêu trên, các nước phát triển đon phươnng đưa ra đối xử GSP ưu đãi về việc nhập khẩu có xuất xứ từ cácnước đang phát triển. Phạm vi sản phẩm và mức độ ưu đãi giữa các nước được áp dụng khác nhau, nhưng trong nhiều trường hợp, toàn bộ nhập khẩu có xuất xứ từ các nước chậm phát triển được bảo đảm miễn thuế khi thâm nhập thị trường. Trong GATT, thời kỳ chuyển đổi cho các nước đang phát triển được áp dụng trong những trường hợp nhất định theo các Hiệp định khác nhau của Vòng Tokyo, và nguyên tắc “S&D” cũng được áp dụng rộng rãi trong các Hiệp định của Vòng Uruguay, và có xét đến những nhu cầu đặc biệt của các nền kinh tế chuyển đổi. Thường thì việc đối xử đặc biệt và có phân biệt tiến hành dưới hình thức của các thời kỳ chuyển đổi dài hon để điều chỉnh các nghĩa vụ mới và thực hiện các quy tắc mới. Trong những trường hợp nhất định, các nước chậm phát triển có thể được giảm bớt những ràng buộc hoặc nghĩa vụ.
Đối xử ưu đãi hoặc các hiệp định thương mại khu vực giống FTAs hay các Hiệp định Liên minh Thuế quan (CUA) trong các nước đang phát triển theo truyền thống không bị phụ thuộc theo các yêu cầu thông báo và kiểm tra của Điều XXIV, nhưng có bị phụ thuộc vào các điều khoản minh bạch trong Phần IV và Điều khoản cho phép (trong CTD).
Ngoài ra, trường hợp của các nước chậm phát triển đã trở thành một trong nhũng vấn đề then chốt trong WTO, và những đề xuất đưa ra nhằm loại bỏ thuế quan một cách toàn diện, tạo thuận lợi cho nhập khẩu hàng hoá xuất xứ từ các nước chậm phát triển. Quyết định của Hội nghị Bộ trưởng tại Marrakesh về Các Biện pháp có lọi cho các Nước chậm phát triển không chỉ đơn thuần là một lời tuyên bố về chính sách có thiện chí.
2.4. Thỏa thuận tự do hóa thương mại trong các ngành dịch vụ.
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) đã đưa ra một khuôn khổ tự do hoá thương mại trong các ngành dịch vụ, được định nghĩa như thực hiện thông qua 4 cách thức giao hàng: qua biên giới, tiêu thụ tại nước ngoài, hiện diện thương mại và hiện diện tạm thời của tự nhiên nhân. Mặt khác, giống như GATT, nguyên tắc tới huệ quốc vô điều kiện (Điều II của GATS) đòi hỏi mỗi chính phủ phải chấp nhận đối xử với các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của một nước thành viên khác trong WTO không kém thuận lợi hơn việc đối xử mà họ giành cho các dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ quốc gia nào khác. Một vài ngoại lệ đối với nguyên tắc tối huệ quốc được thực hiện tại quốc gia có nhũng bảo lưu đặc biệt, liên quan đến các biện pháp đặc biệt, cho phép đối xử ưu đãi hoặc phân biệt đối xử đối với những nước nhất định trong một thời hạn cụ thể.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)