1. Nợ tiền bảo hiểm xã hội chủ doanh nghiệp có bị cấm xuất cảnh?

Tại Việt Nam, hết năm 2022, cả nước có hơn 30.000 doanh nghiệp nợ BHXH, BHYT, BHTN thuộc diện đã giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn nên khó thu hồi. Tổng số tiền còn nợ hơn 4.048 tỷ đồng (cả gốc và lãi) của trên 213.300 người lao động.

Việc xử lý số tiền nợ BHXH kể trên để đảm bảo các quyền lợi cho người lao động gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do chưa có quy định trong các luật liên quan.

Đặc biệt, trong số tiền doanh nghiệp nợ BHXH, BHYT, BHTN của người lao động, có một phần được trích từ tiền lương hàng tháng của người lao động nhưng không nộp đầy đủ.

Tổng số tiền doanh nghiệp đã trừ lương hàng tháng của người lao động để đóng các khoản BHXH khoảng 10,5% trên tổng số lương tháng. Trong đó có 8% vào quỹ BHXH, 1,5% vào quỹ BHYT và 1% vào quỹ BHTN.

Do doanh nghiệp còn nợ tiền BHXH, BHYT, BHTN của người lao động, nên khi lao động nghỉ việc không được chốt sổ để hưởng các quyền lợi bảo hiểm theo quy định như lương hưu, chế độ BHXH một lần, trợ cấp thất nghiệp...

Để tránh tình trạng nợ kéo dài, doanh nghiệp giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn khó thu hồi, trong Dự thảo Luật BHXH sửa đổi mới nhất, Bộ LĐ-TB&XH đã đề xuất ngoài chế tài thu hồi và tính lãi tiền chậm đóng BHXH, khởi kiện ra toà, khởi tố hình sự (như Luật BHXH hiện hành) thì cần bổ sung thêm một số chế tài như: Cơ quan có thẩm quyền có thể tuyên bố ngừng sử dụng hóa đơn (phong tỏa hóa đơn) với đơn vị nợ BHXH từ 6 tháng trở lên (tương tự chế tài với doanh nghiệp nợ thuế); cấm xuất cảnh với chủ doanh nghiệp nợ BHXH từ 12 tháng trở lên.

Với biện pháp hoãn xuất cảnh, đây là vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân, luật hiện hành quy định bị xử phạt hành chính. Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019 cũng có quy định sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện cho tổ chức đang bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà bỏ trốn. Như vậy, khi doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm xã hội thì chủ doanh nghiệp có thể bị cấm xuất cảnh.

2. Cách bảo vệ quyền lợi khi doanh nghiệp nợ BHXH

Việc doanh nghiệp nợ BHXH sẽ làm gián đoạn quá trình ghi nhận thời gian tham gia BHXH của người lao động. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các quyền lợi về BHXH của người lao động khi hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

Ngoài ra, khi doanh nghiệp nợ BHXH từ 30 ngày trở lên, thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) của người lao động sẽ bị khóa. Điều này sẽ gây khó khăn cho người lao động khi đi khám chữa bệnh và được hưởng các quyền lợi về BHYT.

Dưới đây là gợi ý một số cách bảo vệ quyền lợi khi doanh nghiệp nợ BHXH người lao động có thể tham khảo:

- Kiểm tra thông tin đóng BHXH:

Hiện nay, người lao động có thể dễ dàng kiểm tra thông tin đóng BHXH hoặc BHYT của mình qua ứng dụng BHXH số VssID hoặc Cổng giao dịch điện tử của BHXH Việt Nam để xem doanh nghiệp đã đóng BHXH cho mình hay chưa. Nếu thấy có dấu hiệu doanh nghiệp chậm đóng hoặc không đóng BHXH, người lao động có thể yêu cầu doanh nghiệp giải trình và khắc phục.

- Khiếu nại với cơ quan BHXH hoặc Công đoàn Công ty:

Nếu doanh nghiệp không giải quyết hoặc giải quyết không hài lòng, người lao động có quyền khiếu nại với cơ quan BHXH hoặc Công đoàn. Cơ quan BHXH hoặc Công đoàn sẽ tiếp nhận, xác minh và giải quyết khiếu nại theo quy trình và thẩm quyền. Nếu cần thiết, cơ quan BHXH hoặc Công đoàn có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các chứng từ liên quan để làm rõ trách nhiệm.

Khởi kiện ra tòa:

Nếu khiếu nại với cơ quan BHXH hoặc Công đoàn không được giải quyết hoặc không hài lòng với kết quả giải quyết, người lao động có quyền khởi kiện ra tòa để bảo vệ quyền lợi của mình. Tòa án sẽ xét xử theo luật định và có thể yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại cho người lao động.

3. Một số giải pháp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động bị nợ BHXH

Với người lao động đang bị nợ BHXH, BHYT, BHTN, khi nghỉ việc sang đơn vị mới có thể đóng tiếp BHXH bắt buộc, hoặc tham gia BHXH tự nguyện, nhưng việc giải quyết các quyền lợi, chế độ BHXH, BHTN chưa thực hiện được. Vì trên thực tế, theo BHXH Việt Nam, người lao động đã bị trích lương để đóng BHXH, nhưng doanh nghiệp không đóng, tức thời gian đóng BHXH của người lao động đã được ghi nhận nhưng doanh nghiệp chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính.

Để ngăn chặn tình trạng nợ, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN của doanh nghiệp (tránh tình trạng nợ kéo dài sau đó doanh nghiệp giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn khó thu hồi); trong Dự thảo Luật BHXH sửa đổi mới nhất, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) cần đề xuất một số giải pháp “mạnh tay” hơn.

Một số giải pháp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động bị nợ BHXH, BHYT, BHTN (nhưng doanh nghiệp đã giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn) bao gồm:

- Đề xuất, cho phép giải quyết chế độ lương hưu với người lao động có thời gian thực đóng BHXH từ 20 năm trở lên (không gồm thời gian đang nợ BHXH) và tới tuổi nghỉ hưu.

- Trường hợp người lao động có phần đã đóng BHXH từ đủ 10 năm trở lên (không gồm thời gian còn nợ) đã tới tuổi nghỉ hưu, cho phép đóng BHXH tự nguyện một lần cho số năm còn thiếu để hưởng lương hưu. Khi có phương án giải quyết số tiền còn nợ BHXH, sẽ tính bù thời gian tham gia BHXH cho người lao động và điều chỉnh mức lương hưu.

- Về chế độ BHXH một lần, ốm đau, thai sản, tử tuất; BHXH Việt Nam đề xuất được giải quyết theo quy định hiện hành tính trên phần thời gian người lao động đã đóng BHXH (không gồm thời gian còn nợ). Với thời gian người lao động bị nợ BHXH, khi có chính sách, hoặc nguồn tài chính khác để đóng bù sẽ giải quyết chế độ bổ sung.

4. Những thủ đoạn doanh nghiệp thường sử dụng để trốn đóng BHXH

Các thủ đoạn điển hình mà doanh nghiệp thường sử dụng để trốn đóng BHXH bao gồm:

- Mặc dù không trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc đối với quỹ BHXH nhưng trốn tránh nghĩa vụ này đối với người lao động, chiếm đoạt phần BHXH bắt buộc của người lao động đã bỏ ra.

- Người sử dụng lao động không đăng ký tham gia BHXH bắt buộc hoặc đăng ký tham gia BHXH bắt buộc sau thời gian mà pháp luật quy định.

- Người sử dụng lao động đã đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động nhưng hết thời hạn định kỳ mà pháp luật quy định (1 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng) phải có nghĩa vụ đóng, nhưng người sử dụng lao động vẫn không chịu đóng mặc dù đã được thông báo hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

- Người sử dụng lao động đăng ký và đóng BHXH bắt buộc thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định với các trường hợp.

- Một số doanh nghiệp tuyển dụng người lao động làm việc tại các vị trí đơn giản đã xác định chỉ sau một thời gian sử dụng lao động sẽ sa thải và tuyển mới các đối tượng lao động khác nên chỉ ký kết hợp đồng thời vụ hoặc trả lương không có hợp đồng lao động... Đồng thời, không kê khai, báo cáo về số lao động này và không đăng ký đóng BHXH để trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Doanh nghiệp nợ tiền bảo hiểm bao lâu thì bị thanh tra theo quy định mới? của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nợ tiền bảo hiểm xã hội chủ doanh nghiệp có bị cấm xuất cảnh? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!