- 1. Tuyên ngôn độc lập là gì?
- 2. Các bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam
- 2.1. Bản tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước ta: "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt
- 2.1.1. Giới thiệu chung
- 2.1.2. Nội dung bản tuyên ngôn "Nam quốc sơn hà"
- 2.2. Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai: "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi
- 2.2.1. Giới thiệu chung
- 2.2.2 Nội dung bản tuyên ngôn "Bình Ngô đại cáo"
- 2.3. Bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- 2.3.1. Giới thiệu chung
- 2.3.2. Nội dung bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1. Tuyên ngôn độc lập là gì?
Tuyên ngôn độc lập là một tài liệu lịch sử quan trọng, thường được xem là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của một quốc gia. Tuyên ngôn độc lập thường được phát đi trong các cuộc cách mạng hoặc cuộc chiến đấu cho độc lập và chủ quyền của quốc gia. Trong đó, các nhà lãnh đạo, nhà chính trị hoặc các nhân vật lịch sử quan trọng của quốc gia đó sẽ đọc tuyên bố trước công chúng và thế giới. Tuyên ngôn độc lập thường bao gồm một số yếu tố cơ bản, bao gồm việc tuyên bố sự độc lập của quốc gia đó, phát biểu về quyền tự quyết và chủ quyền của quốc gia, và giải thích lý do cho việc tuyên bố độc lập đó. Tuyên ngôn độc lập còn có thể liệt kê các quyền và tự do của dân chúng, và nhấn mạnh rằng chính phủ của quốc gia đó được thành lập để bảo vệ và đảm bảo những quyền và tự do đó.
Nhiều quốc gia đã có tuyên ngôn độc lập quan trọng trong lịch sử của mình. Ví dụ, Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, đánh dấu sự ra đời của Hoa Kỳ và độc lập khỏi Anh. Tuyên ngôn độc lập Việt Nam cũng là một tài liệu lịch sử quan trọng, có thể kể đến bản Tuyên ngôn độc lập được đọc ra vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, đánh dấu bước đầu của chiến tranh đấu tranh cho độc lập, tự do của Việt Nam.
Mặc dù tuyên ngôn độc lập thường được xem là một văn bản lịch sử quan trọng, nhưng cũng có nhiều tài liệu khác không mang tên như vậy nhưng mang ý nghĩa tương tự, được coi là tuyên ngôn độc lập. Các tài liệu này có thể là bản tuyên bố độc lập của một bang, một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ, được sử dụng để khẳng định chủ quyền và quyền tự quyết.
2. Các bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam
2.1. Bản tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước ta: "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt
2.1.1. Giới thiệu chung
"Nam quốc sơn hà" là một bài thơ được cho là do Lý Thường Kiệt sáng tác trong thời gian kháng chiến chống quân Tống vào năm 1076. Trong bài thơ, nhà thơ miêu tả những cảnh đẹp của thiên nhiên và đất nước Việt Nam, đồng thời ca ngợi lòng yêu nước của người dân Việt Nam và sự khát khao giữ gìn chủ quyền đất nước. Có một số tư liệu lịch sử cho rằng, khi đang chiến đấu với quân Tống, Lý Thường Kiệt đã nhận được sự giúp đỡ của thần linh và được thần linh đọc bài thơ Nam quốc sơn hà giúp đỡ trong trận đánh. Bài thơ được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam, với mục đích khẳng định chủ quyền của Đại Việt trên các vùng đất của mình. Nội dung của bài thơ rất ý nghĩa và được truyền tai nhau qua nhiều thế hệ, trở thành một trong những tác phẩm văn học cổ điển quan trọng của Việt Nam.
2.1.2. Nội dung bản tuyên ngôn "Nam quốc sơn hà"
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa:
Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm?
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.
Bản Tuyên ngôn độc lập "Nam quốc sơn hà" được coi là một tài sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam. Tuy không chính thức được công nhận như là một văn kiện quốc gia, nhưng nó được coi là động lực và tín hiệu cho những cuộc chiến đấu giành độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt Nam trong suốt lịch sử. Với tầm vóc của một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, "Nam quốc sơn hà" đã khẳng định một cách dứt khoát về chủ quyền lãnh thổ dân tộc. Nó thể hiện sự tự hào của người Việt về đất nước, những núi sông, đồng bằng, biển cả và những tài nguyên thiên nhiên quý giá trên lãnh thổ này. Đồng thời, bản Tuyên ngôn cũng bày tỏ lòng tôn kính đến các vua Hùng, những người đã khai quốc và xây dựng nền văn minh Việt. Ngoài ra, "Nam quốc sơn hà" còn thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào chính nghĩa và sự thăng hoa của tinh thần dân tộc. Bài thơ khẳng định rằng, dù gặp khó khăn đến đâu, dân tộc Việt Nam sẽ luôn vững tin và bất khuất trong cuộc chiến giành độc lập và chủ quyền.
2.2. Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai: "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi
2.2.1. Giới thiệu chung
Bình Ngô đại cáo là một trong những tài liệu lịch sử vô giá của dân tộc Việt Nam. Nó không chỉ là một bản tuyên ngôn độc lập của đất nước mà còn là một tài liệu quan trọng để hiểu sâu hơn về quá trình kháng chiến chống lại ách đô hộ của nhà Minh và cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Việt Nam. Bình Ngô đại cáo được soạn thảo bởi Nguyễn Trãi, một nhân vật quan trọng trong cuộc kháng chiến chống lại nhà Minh. Đây là một bài văn ca ngợi chiến thắng của đại tướng Lê Lợi và quân đội nhân dân Việt Nam. Bài tuyên cáo này khẳng định sự độc lập của nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã có quyền tự quyết định về chính sách của mình.
Trong tác phẩm, Nguyễn Trãi đã sử dụng một ngôn ngữ sắc sảo, giàu cảm xúc, tuyên bố rằng đất nước đã giành được độc lập và tự do sau nhiều năm chống lại quân Minh. Bình Ngô đại cáo còn thể hiện sự tôn trọng và yêu quý của người viết đối với văn học và văn hoá dân tộc, vì nó được viết bằng chữ Hán - một ngôn ngữ có giá trị văn hoá lớn trong lịch sử Việt Nam.
2.2.2 Nội dung bản tuyên ngôn "Bình Ngô đại cáo"
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
Bình Ngô đại cáo không chỉ đơn thuần là một bài tuyên bố độc lập, mà còn là một tác phẩm văn học, một kiệt tác của văn chương Việt Nam. Nó có giá trị cao về mặt nghệ thuật và được coi là một trong những bài văn học lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Tác phẩm này đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định danh tiếng và nền văn hóa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
2.3. Bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.3.1. Giới thiệu chung
Bản Tuyên ngôn độc lập được coi là một văn kiện chính trị quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Văn kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia và quyền độc lập của dân tộc đó. Điều này đồng nghĩa với việc tuyên bố sự tồn tại và sức mạnh của một quốc gia, và cũng đồng nghĩa với việc tuyên bố sự đứng vững trên cơ sở của công lý và quyền con người. Không chỉ vậy, Tuyên ngôn độc lập còn là một tác phẩm văn chính luận có giá trị lớn. Tác giả của tuyên ngôn đã sử dụng ngôn ngữ tinh tế, uyển chuyển, sâu sắc để phản ánh được tất cả những tình cảm, niềm tin và khát khao của dân tộc. Bằng những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu nhưng cực kỳ sâu sắc và uyển chuyển, Tuyên ngôn độc lập đã truyền tải một thông điệp rất sâu sắc về sự quan trọng của quyền độc lập và công bằng. Bản tuyên ngôn của chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam, đánh dấu sự tồn tại của một quốc gia tại Đông Nam Á cũng như đánh dấu chủ quyền và quyền tự quyết của quốc gia.
2.3.2. Nội dung bản "Tuyên ngôn độc lập" của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!
Trên đây là nội dung 3 bản Tuyên ngôn độc lập mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp tới bạn đọc. Hy vọng bài viết này đã đem đến cho bạn đọc những kiến thức bổ ích. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi!