1. Khái quát chung

Trên thực tế có những người bị tạm giữ, tạm giam chấp hành tốt các quy định của pháp luật còn có những người không tự giác chấp hành mà còn có thái độ chống đối, lẩn tránh pháp luật. Các hoạt động tiêu cực này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ việc hạn chế nhận thức pháp luật cho đến vướng mắc tâm lý cá nhân. Do đó, để có thể đạt được mục đích của việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam thì không chỉ quản lý chặt chẽ người bị tạm giữ, tạm giam mà còn phải giáo dục họ.Thông qua giáo dục, người bị tạm giữ, tạm giam sẽ nhận thức được tội lỗi do hành vi của mình gây ra cũng như chính sách của Nhà nước đối với họ, những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội để từ đó họ hối cải, tích cực cộng tác với các cơ quan chức năng trong qúa trình làm rõ sự thật của vụ án.Nội dung giáo dục là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian bị giam, giữ ; chính sách của Nhà nước đối với họ cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến thái độ không thành khẩn của họ trong khai báo để người bị tạm giữ, người bị tạm giam thấy rõ tội lỗi, trách nhiệm của mình, từ đó khai báo thành khẩn và chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ.
Tại Điều 4 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cũng có quy định cụ thể về một số những nguyên tắc trong quản lý,thi hành tạm giữ tạm giam, cụ thể như sau:
Điều 4. Nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về tạm giữ, tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyền.
3. Bảo đảm nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
4. Bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan.
5. Áp dụng các biện pháp quản lý giam giữ phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, độ tuổi, giới tính, sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới, quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ, trẻ em và các đặc điểm nhân thân khác của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

2. Một số nguyên tắc cơ bản

2.1 Tuân thủ Hiến pháp và PL; bảo đảm QCN , lợi ích của Nhà nước, quyền và LIHP của tổ chức, cá nhân

Nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong luật thi hành tạm giữ, tạm giam: Quyền tự do về thân thể là một trong những quyền cơ bản của công dân; chính vì vậy việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân không chỉ đặt ra ở giai đoạn khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định tạm giữ, tạm giam mà đòi hỏi phải quán triệt trong suốt cả quá trình tổ chức quản lý những người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong cơ sở giam giữ cũng như khi dẫn giải hoặc đưa họ ra khỏi khu vực giam giữ

Nội dung nguyên tắc này thể hiện: Giam giữ phải đúng người. Đảm bảo giam giữ đúng người tức là chỉ tiếp nhận để đưa vào nhà tạm giữ, trại tạm giam những nguời sau khi đã kiểm tra và xác định chính xác đúng người đó đang có Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam của những có quan có thẩm quyền theo đúng những quy định của pháp luật TTHS. Giam giữ người phải đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo pháp luật. Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ phải kiểm tra kỹ càng hồ sơ, tài liệu theo đúng những quy định của pháp luật TTHS (phải có Quyết định tạm giữ hoặc lệnh tạm giam đúng thẩm quyền, đang có hiệu lực thi hành, biên bản bắt giữ, danh chỉ bản…). Trong suốt quá trình giam giữ, phải quản lý chặt chẽ đối tượng, chỉ đưa đối tượng ra khỏi khu vực giam giữ trong những trường hợp luật định và phải có quyết định của những cơ quan, người có thẩm quyền như trích xuất, cho đối tượng gặp thân nhân, đưa đối tượng đi bệnh viện, dẫn giải đối tượng đến phiên tòa để xét xử, di lý đối tượng, chuyển giao đối tượng. Khi sắp hết hạn tạm giữ, tạm giam phải thông báo cho những cơ quan, đơn vị có thẩm quyền để có quyết định bổ sung hoặc trả tự do cho đối tượng khi hết hạn tạm giữ, tạm giam
Tổ chức quản lý, giam giữ phải đảm bảo an toàn và theo đúng những quy định của pháp luật. Quá trình tổ chức giam giữ đối tượng phải phân loại quản lý theo quy định, không giam chung trong buồng giam những đối tượng bị tạm giữ với những đối tượng bị tạm giam hoặc với những phạm nhân đang chấp hành án…Đảm bảo quản lý nghiêm ngặt chặt chẽ, không để đối tượng chống phá, trốn khỏi nơi giam giữ, phạm tội mới, thông cung, tự sát hoặc có những hành vi đối phó tiêu cực khác. Việc xử lý những đối tượng có hành vi vi phạm trong khi đang bị tạm giữ, tạm giam như vi phạm nội quy, phạm tội mới, trốn… phải đảm bảo đúng thủ tục và thẩm quyền. Thực hiện nghiêm chỉnh những chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật đối với những người bị tạm giữ, tạm giam như chế độ ăn, mặc, ở, thăm gặp thân nhân, gửi thư quà, khiếu nại, tố cáo…

2.2 Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về TG, tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyền

Bắt người, tạm giữ, tạm giam người là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền của công dân, quyền con người của người bị bắt. Mục đích của các biện pháp này là để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế. 
Nội dung nguyên tắc này yêu cầu: Những lệnh, quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đã có hiệu lực pháp luật phải được thực hiện. Khi đã có hiệu lực, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện các lệnh, quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ tạm giam đúng pháp luật nghiêm chỉnh, đảm bảo quyền con người, phát huy hiệu quả cao nhất trọng việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Việc thay đổi việc thi hành tạm giữ tạm giam trong quá trình quản lý thi hành tạm giữ, tạm giam được chấp hành nghiêm chỉnh: trích xuất, trả tự do, thay đổi biện pháp ngăn chặn; điều chuyển nơi giam giữ. 
Trích xuất là việc đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam ra khỏi cơ sở giam giữ trong thời gian nhất định theo lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền để thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, khám bệnh, chữa bệnh, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự, thực hiện quyền, nghĩa vụ khác do luật định. Trả tự do là việc một người không còn bị áp dụng những biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do nữa. Trả tự do trong các trường hợp hết thời hạn áp dụng, không đủ căn cứ để khởi tố bị can. Thay đổi biện pháp ngăn chặn trong những trường hợp hết thời hạn tạm giam mà xét thấy cần phải áp dụng những biện pháp khác để ngăn chặn người có hành vi phạm tội tiếp tục phạm tội, hay gây khó khăn cho các hoạt động tố tụng. Trong quá trình giam, giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ có trách nhiệm chuyển giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong các trường hợp: Có quyết định của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ sở giam giữ khác; Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đưa người bị kết án phạt tù đến nơi chấp hành án; Có quyết định của Hội đồng thi hành án tử hình đưa người bị kết án tử hình đi thi hành án tử hình.
Như vậy, việc đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh lệnh, quyết định về tạm giữ, tạm giam, trả tự do của cơ quan, người có thẩm quyềntrong luật thi hành tạm giữ, tạm giam là vô cùng quan trọng. Nếu việc thực hiện không đúng pháp luật ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ich của công dân, mất đi sự nghiêm minh, công bằng  của pháp luật.

2.3 Bảo đảm tính nhân đạo; không tra tấn, truy bức, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác

Nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong luật thi hành tạm giữ, tạm giam. Nhân đạo vốn được hiểu là “cái đức yêu thương con người, trên cơ sở tôn trọng phẩm giá, quyền và lợi ích con người”  “là đạo đức thể hiện tình thương yêu với ý thức tôn trọng giá trị phẩm chất của con người, “là một từ ghép gốc Hán với nghĩa nhân là người và đạo là đường. Nhân đạo là đường làm người, là đạo làm người, là thương yêu tôn trọng, bảo vệ giá trị, phẩm giá và quyền sống của con người”. Ở nghĩa trừu tượng, nhân đạo là sự thừa nhận cá nhân (con người) là một giá trị, khẳng định lợi ích của con người là tiêu chí đánh giá các quan hệ xã hội. Vấn đề nhân đạo, vì vậy là vấn đề con người, liên quan đến tất cả mọi người. Ở nghĩa cụ thể hơn, nhân đạo là sự yêu thương, quý trọng con người, là sự đối xử nhân từ, có tình người đối với họ.

Nội dung nguyên tắc yêu cầu: Những cơ quan chức năng, những người có thẩm quyền trong việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam phải có thái độ đúng đắn, đối xử với người bị tạm giữ, người bị tạm giam với tư cách là quan hệ giữa con người với con người. Mọi biện pháp, phương tiện sử dụng trong quá trình tạm giữ, tạm giam phải phù hợp với pháp luật, với đạo đức, thuần phong mỹ tục và những giá trị xã hội khác. Không được làm điều gì gây đau đớn về thể xác, tinh thần hoặc làm xấu đi tình trạng mất tự do của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Phải thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những chính sách, chế độ của Nhà nước đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam đồng thời quan tâm giải quyết những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của họ. Nghiêm cấm những hành vi trái pháp luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam như đánh đập; nhục hình kể cả nhục hình biến tướng… Việc xử lý những hành vi vi phạm của những người bị tạm giữ, tạm giam phải đúng thẩm quyền, đảm bảo khách quan theo quy định của pháp luật
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê