Mục lục bài viết
- 1. Một số khái niệm
- 1.2 Khái niệm bảo hiểm
- 1.2 Khái niệm tín dụng
- 1.3 Khái niệm bảo hiểm tín dụng
- 2. Đặc điểm và tính chất của bảo hiểm tín dụng
- 2.1 Đặc điểm
- 2.2 Tính chất
- 3. Chức năng của bảo hiểm tín dụng
- 4. Vai trò của bảo hiểm tín dụng
- 4.1 Đối với khách hàng cá nhân
- 4.2 Đối với ngân hàng thương mại
- 4.3 Đối với công ty bảo hiểm
- 5. Nội dung cơ bản của bảo hiểm tín dụng
- 5.1 Đối tượng tham gia
- 5.2 Phạm vi của bảo hiểm tín dụng
- 5.3 Phí và phương pháp tính phí
- 5.4 Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm tín dụng
1. Một số khái niệm
1.2 Khái niệm bảo hiểm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu (xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật nghiệp vụ...).
Định nghĩa 1: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít.
Định nghĩa 2: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xẩy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
.png)
Định nghĩa 3: Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được.
Các định nghĩa trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về xã hội định nghĩa 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp định nghĩa 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính định nghĩa 3) và ít nhiều có sự khiếm khuyết các yếu tố cần thiết của một định nghĩa đầy đủ.
Theo các chuyên gia Pháp một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau:
"Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê".
1.2 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. 3 đặc trưng cơ bản của tín dụng: Chỉ hữu vốn; làm thay đổi quyền sử dụng mà không làm thay đổi quyền sở; Thời hạn tín dụng được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ tín dụng.Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng.
1.3 Khái niệm bảo hiểm tín dụng
Bảo hiểm tín dụng là một hình thức bảo hiểm mà công ty bảo hiểm sẽ đứng ra trả nợ thay, giúp giảm được gánh nặng nợ nần cho người thân hoặc không bị thanh lý tài sản cho người đi vay khi họ bất ngờ không maygặp phải những rủi ro không lường trước, dẫn đến mất khả năng thanh toán trong quan hệ tín dụng.
2. Đặc điểm và tính chất của bảo hiểm tín dụng
2.1 Đặc điểm
Bảo hiểm tín dụng là một loại hình nghiệp vụ của bảo hiểm thương mại nên nhìn chung có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, hoạt động bảo hiểm tín dụng là một hoạt động mang tính thỏa thuận hay tự nguyện.
Thứ hai, sự tương hổ trong bảo hiểm tín dụng được thực hiện trong một “nhóm đóng” có giới hạn.
Thứ ba, bảo hiểm tín dụng chỉ cung cấp dịch vụ đảm bảo cho rủi ro tài sản.
2.2 Tính chất
Bảo hiểm tín dụng là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường. Khi xã hội dần nhận thức được những rủi ro tài chính phát sinh giữa các
mối quan hệ kinh tế, bảo hiểm tín dụng đã có điều kiện ra đời và phát
triển. Nó gắn liền với mục đích bảo vệ các rủi ro tài chính đó, vì vậy bảo hiểm tín dụng có một số tính chất cơ bản sau:
Nhu cầu vay vốn của khách hàng tại các ngân hàng thương mại ngày càng lớn dẫn đến phát sinh về rủi ro mà khách hàng không có khả năng trả nợ cũng gia tăng. Để giải quyết vấn đề này, các công ty bảo hiểm và ngân hàng đã liên kết với nhau tạo ra bảo hiểm tín dụng. Và như vậy, bảo hiểm tín dụng ra đời hoàn toàn mang tính tất yếu khách quan.
Tính dịch vụ: Quỹ bảo hiểm tín dụng muốn được hình thành để bảo toàn và tăng trưởng thì phải có sự đóng góp của các bên tham gia cùng với việc được quản lí chặt chẽ sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người tham gia bảo hiểm. Quỹ chủ yếu dùng để bồi thường thiệt hại cho người tham gia theo các điều kiện bảo hiểm tín dụng.
Tính xã hội: Nó tạo ra sự an tâm nhất định cho người tham gia cũng như giảm thiểu tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm.
Tính kinh tế: Đối với người tham gia, phần đóng góp của mỗi người là không đáng kể nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với ngân hàng thương mại thì sẽ giảm được gánh nặng nợ xấu. Đối với công ty bảo hiểm, có thêm một nguồn quỹ nhàn rỗi để đầu tư cho nền kinh tế.
3. Chức năng của bảo hiểm tín dụng
Thứ nhất, bảo hiểm tín dụng đảm bảo trả nợ thay cho người đi vay đối với khoản vay của họ khi xảy ra rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng.
Thứ hai, bảo hiểm tín dụng giúp bảo toàn tài sản thế chấp cho người đi vay.
Thứ ba, bảo hiểm tín dụng như là lá chắn đối với gánh nặng nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Thứ tư, tạo nguồn quỹ nhàn rỗi cho các công ty bảo hiểm.
4. Vai trò của bảo hiểm tín dụng
4.1 Đối với khách hàng cá nhân
Hầu như tất cả mọi người đều có nhu cầu mua sắm tài sản để phục vụ cho mục đích cá nhân của mình. Nhưng việc bỏ ra một số tiền lớn để có thể sở hữu ngay những tài sản có giá trị lớn như nhà cửa hoặc ô tô là điều mà nhiều người khó có thể thực hiện được. Từ đó, các ngân hàng thương mại bắt đầu mở gói tín dụng cho phép mua trả góp theo thời gian nhất định để giải quyết nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, cuộc sống luôn chứa đựng rủi ro bất ngờ mà con người chúng ta không thể lường trước được. Nếu khách hàng đang vay gói tín dụng để mua nhà gặp phải một tai nạn dẫn đến tàn tật hoặc tệ hơn là tử vong, thì gánh nặng trả nợ sẽ đè lên vai của người thân. Trường hợp người thân không thể trả nợ thì việc căn nhà đang vay trả góp đó có nguy cơ bị ngân hàng phát mãi là điều chắc chắn. Để phòng ngừa được rủi ro trên, bảo hiểm tín dụng đã ra đời và đóng vai trò như một công cụ an toàn nhằm thực hiện chức năng bảo vệ tài sản của người tham gia bảo hiểm.Hầu như tất cả mọi người đều có nhu cầu mua sắm tài sản để phục vụ cho mục đích cá nhân của mình. Nhưng việc bỏ ra một số tiền lớn để có thể sở hữu ngay những tài sản có giá trị lớn như nhà cửa hoặc ô tô là điều mà nhiều người khó có thể thực hiện được. Từ đó, các ngân hàng thương mại bắt đầu mở gói tín dụng cho phép mua trả góp theo thời gian nhất định để giải quyết nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, cuộc sống luôn chứa đựng rủi ro bất ngờ mà con người chúng ta không thể lường trước được. Nếu khách hàng đang vay gói tín dụng để mua nhà gặp phải một tai nạn dẫn đến tàn tật hoặc tệ hơn là tử vong, thì gánh nặng trả nợ sẽ đè lên vai của người thân. Trường hợp người thân không thể trả nợ thì việc căn nhà đang vay trả góp đó có nguy cơ bị ngân hàng phát mãi là điều chắc chắn. Để phòng ngừa được rủi ro trên, bảo hiểm tín dụng đã ra đời và đóng vai trò như một công cụ an toàn nhằm thực hiện chức năng bảo vệ tài sản của người tham gia bảo hiểm.
4.2 Đối với ngân hàng thương mại
Trong trường hợp khách hàng không tham gia bảo hiểm tín dụng mà gặp phải các rủi ro không mong muốn dẫn đến mất khả năng trả nợ, thì lúc này ngân hàng sẽ phải tốn không ít thời gian cùng một khoản chi phí để giải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan trong quá trình thu hồi nợ. Nhưng nếu khách hàng có tham gia bảo hiểm tín dụng thì đối với khoản nợ còn lại sẽ được công ty bảo hiểm chi trả. Vì lẽ đó mà bảo hiểm tín dụng có vai trò như một công cụ hổ trợ cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn.
4.3 Đối với công ty bảo hiểm
Nguyên tắc hoạt động của các công ty bảo hiểm là thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm. Điều đó cho phép họ có một số tiền rất lớn và đòi hỏi họ phải quản lý chặt chẽ
và sử dụng có hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo
hiểm. Ngoài ra thời điểm xảy ra rủi ro và thời điểm thu phí bảo hiểm luôn có một khoảng cách. Bởi vậy các doanh nghiệp bảo hiểm phải thiết lập các quỹ dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi. Như vậy sản phẩm bảo hiểm tín dụng có vai trò giúp các công ty bảo hiểm thêm được các nguồn thu, thông qua đó bù đắp được các chi phí, hình thành được nguồn quỹ phục vụ cho hoạt động đầu tư, cũng như góp phần tăng thêm lợi nhuận và khả năng tài chính.
5. Nội dung cơ bản của bảo hiểm tín dụng
5.1 Đối tượng tham gia
Là công dân Việt Nam trên 18 tuổi, có tư cách pháp lý đối với loại bảo hiểm cho vay.
5.2 Phạm vi của bảo hiểm tín dụng
Công dân Việt Nam tham gia bảo hiểm khoản vay tuỳ thuộc vào loại hình điều kiện của khoản vay đó.
Dành cho khoản vay: có thời hạn trên 3 tháng (nếu đóng phí bảo hiểm hàng tháng) hoặc trên 6 tháng (nếu đóng phí bảo hiểm hàng quý/ nửa năm/ hàng năm).
5.3 Phí và phương pháp tính phí
Phí bảo hiểm khoản vay là chi phí má đối tượng tham gia bảo hiểm trả để bảo đảm chi phí cho khoản vay khi không may mắn gặp rủi ro, không thể trả nợ cho ngân hàng. Phí bảo hiểm này sẽ do ngân hàng yêu cầu mua của công ty bảo hiểm mà ngân hàng hợp tác.
Phí bảo hiểm được tính trên phần trăm số tiền mà khách hàng tham gia khoản vay.
5.4 Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm tín dụng
Bảo hiểm cho vay sẽ tự động trả thay cho khách hàng mất khả năng chi trả hoặc khách hàng gặp rủi ro.
Khi mua bảo hiểm khoảng vay thì khách hàng sẽ được ngân hàng
duyệt cao hơn và nhanh hơn vì nó cũng góp phần tăng thêm uy tín khách hàng đối với ngân hàng.
Bên tham gia bảo hiểm khoản vay phải tuân thủ và đóng phí theo quy định cho bảo hiểm khoản vay của mình.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê