1. Khái niệm, phân loại hiện trường vụ án hình sự

1.1 Khái niệm khám nghiệm hiện trường

Hiện trường là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống.Theo từ điển tiếng việt thì:" hiện trường là nơi xảy ra hoạt động hay sự việc gì". với khái niệm này thì hiện trường có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo đó khái niệm về hiện trường bao gồm hai nội dung cơ bản sau: Một là hiện trường là một nơi, tức là một khoảng không gian cụ thể. Hai là, tại khoảng không gian cụ thể đó có sự việc xảy ra. Khái niệm trên đã không chỉ rõ "sự việc" xảy ra đó là sự việc gì, tính chất ra sao. Do đó, có thể hiểu là sự việc bất kỳ. Theo khái niệm này thì hiện trường là một khái niệm rất rộng , chỉ cần có sự việc xảy ra , trong khoảng không gian cụ thể, thì đó là hiện trường. 

Trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, khái niệm hiện trường cũng được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, nội hàm trong khái niệm hiện trường trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm có nội hàm hẹp hơn khái niệm hiện trường nói chung. Theo Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có thể hiểu nội hàm khái niệm hiện trường trong điều tra tố tụng hình sự như sau: Một là hiện trường trước hết là một nơi, tức là một khoảng không gian, thời gian cụ thể. Hai là, nơi đó đã xảy ra sự việc phạm tội hoặc là nơi phát hiện ra tội phạm. Hiểu về hiện trường như trên là phù hợp với bộ luật tố tụng hình sự 2015, điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong điều tra, xử lý các tội phạm. Trong thực tiễn của quá trình đấu tranh, phòng chống tội phạm cho thấy: Khi nhận được tin báo về sự việc xảy ra, từ nguồn tin ban đầu chưa đầy đủ thông tin, tài liệu cho phép xác định một vụ việc có phải là tội phạm hay không. Qua đó có thể định nghĩa về hiện trường trong khoa học hình sự như sau: Hiện trường là nơi xảy ra, nơi phát hiện sự việc mang tính hình sự.

1.2 Phân loại hiện trường

Hiện trường các vụ việc mang tính hình sự tồn tại khá đa dạng, phong phú tùy thuộc vào tính chất thực hiện hành vi phạm tội, loại tội phạm xảy ra, nơi xảy ra vụ việc... Do vậy, hiện trường có thể phân làm nhiều loại khác nhau dựa trên những căn cứ nhất định.

Căn cứ vào loại vụ việc đã xảy ra có thể phân loại thành các hiện trường như: Hiện trường có người chết, hiện trường trộm, hiện trường xâm hại tình dục, hiện trường cướp, hiện trường các vụ cố ý gây thương tích, hiện trường phạm tội công nghệ cao, hiện trường cháy, hiện trường tai nạn (giao thông, lao động...), hiện trường chống khủng bố...Đối với từng loại hiện trường này lại có thể phân thành các loại hiện trường cụ thể hơn, như: Hiện trường có người chết còn có thể chia thành : hiện trường có người chết do súng đạn, hiện trường có người chết dưới nước, hiện trường có người chết do ngộ độc, hiện trường có người chết do treo cổ, hiện trường có người chết do tự sát... Hoặc hiện trường trộm cắp tài sản có thể chia thành các loại hiện trường như: trộm cắp tài sản trong các kho tàng, cửa hàng, trộm cắp tài sản trên các phương tiện giao thông, trộm cắp tài sản trên tàu, thuyền...

2. Nội dung trong khám nghiệm tử thi

2.1 Khám ngoài

Khi tiến hành khám ngoài tử thi, cần thực hiện các bước sau: một là xác định, ghi nhận vị trí, tư thế, dáng điệu của tử thi ở hiện trường. kiểm tra, xem xét, ghi nhận các đặc điểm của tử thi. Hai là kiểm tra, xem xét đồ vật có liên quan. Đồ vật có liên quan đến nạn nhân có thể là quần, áo, giày dép, mũ nón, đồng hồ, điện thoại, túi xách, vali, chìa khóa mà nạn nhân mang theo. Ba là, kiểm tra các giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, bằng lái xe, thẻ ATM, thẻ sinh viên, thẻ đảng, đoàn, sĩ quan... Qua đó có thể xác định nhanh chóng danh tính, lai lịch của nạn nhân. Bốn là kiểm tra các loại tư trang, đồ đạc khác như dây chuyền, nhẫn, đồng hồ, khuyên tai, điện thoại, ba lô... Nếu có các tư trang , đồ đạc như trên thi phải ghi nhận khách quan, chi tiết. Năm là, kiểm tra , xem xét các đặc điểm trên cơ thể cơ thể tử thi; lấy dấu vân tay của tử thi; kiểm tra, xem xét và ghi nhận những dấu hiệu thay đổi của tử thi sau khi chết: vết hoen, sự co cứng, sự lạnh, sự thối rữa. Sáu là, khám kỹ các vùng: đầu, cổ, gáy, ngực, lòng bàn tay, chân, móng tay, móng chân, các lỗ tự nhiên. Đây là một nội dung rất quan trọng của giai đoạn khám ngoài. Bởi vì đây là vị trí hết sức nhạy cảm trong việc thu thập được dấu vết hình sự, cũng như dấu vết liên quan đến nguyên nhân chết của nạn nhân. Đối với các lỗ tự nhiên thường chú ý tới bộ phận sinh dục ở nữ giới xem có dấu vết của quá trình giao cấu hay không. Đối với móng tay, móng chân, lòng bàn tay, chân chủ yếu thu thập các dấu vết liên quan, dấu vết do hung thủ để lại như sợi quần áo, tế bào, vết máu trên móng tay, móng chân của nạn nhân.

Chính vì vậy, đòi hỏi khi khám những vùng này phải khám tỉ mỉ, thận trọng nhằm phát hiện các dấu vết, vật chứng và các thương tích có thể xuất hiện. Tại các dấu vết vật chứng là các thương tích phải ghi nhận mô tả theo trình tự nhất định: Loại dấu vết hoặc thương tích, hình dạng, chiều hướng chuyển động, kích thước, vị trí. Đồng thời, phải vẽ sơ đồ và chụp ảnh theo đúng nguyên tắc chụp ảnh dấu vết vật chứng.

2.2 Khám trong

Khi tiến hành khám trong tử thi tại hiện trường vụ án, cần thực hiện các hoạt động sau: mổ sọ, mổ cổ ngực, mổ ổ bụng. Lấy bệnh phẩm xét nghiệm. Trong nhiều trường hợp để có thêm căn cứ khoa học phục vụ cho việc kết luận của các giám định viên pháp y được chính xác, khách quan thì trong quá trình khám nghiệm tử thi cần lấy bệnh phẩm về để nghiên cứu, giám định, xét nghiệm.

Các loại bệnh phẩm thường được thu thập: Một là, lấy máu của tử thi: dùng xilanh lấy 200cc máu trong buồng tim của tử thi cho vào ống nghiệm sạch, có độ tinh khiết cao để bảo quản. Hai là lấy các chất chứa trong phủ tạng. Ba là, lấy khoảng từ 400-500g phủ tạng cho vào lọ thủy tinh rộng miệng, đậy nắp cẩn thận, các chất của những phần phủ tạng khác nhau thì để trong các lọ khác nhau. Các chất phải để riêng biệt và ghi chú đầy đủ thông tin về chất đó. Phía ngoài lọ ghi rõ : Tên vụ việc, ngày tháng năm diễn ra, người thu thập, tên bệnh phẩm..... Bốn là, trong các trường hợp cần thiết có thể lấy trực tiếp các mảnh tạng trong cơ thể của tử thi để giám định. Thường các mảnh tạng nên lấy theo hình khối khoảng 2x2x3 cm. Sau khi lấy xong phải cho ngay vào dung dịch bảo quản như : Formol; Bonin 10-12% để bảo quản. 

3. Lưu ý trong việc kiểm tra, phân tích BB khám nghiệm tử thi và các bản ảnh chụp tử thi

Khi nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan đến công tác khám nghiệm tử thi, đòi hỏi cần hết sức chú ý kiểm tra về hình thức của văn bản này. Theo đó, biên bản khám nghiệm tử thi phải được lập theo mẫu luật định và phải có đầy đủ các yếu tố nội dung bắt buộc. Cần xác định: biên bản khám nghiệm tử thi có ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành khám nghiệm tử thi hay không? thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc của cuộc khám nghiệm có được cập nhật chính xác hay không? Đây là nội dung hết sức quan trọng, nó thể hiện tính xác thực của một hoạt động được diễn ra và tiến hành 

Cần nghiên cứu phân tích kỹ về nội dung của hoạt động khám nghiệm tử thi được phản ánh trong biên bản khám nghiệm tử thi. Trước hết phải xem thành phần tiến hành có đúng theo quy định của pháp luật không. Đồng thời, cần kiểm tra kỹ về biên bản khám nghiệm tử thi, xem biên bản có chữ ký của những người tham gia khám nghiệm tử thi hay không. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy, xóa trong biê bản có được xác nhận của chữ ký của những người tiến hành và tham gia khám nghiệm không. Đồng thời phải xem xét kiểm tra kỹ về trình tự, thủ tục khám nghiệm, như: việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến hành tiến hành dưới sự chủ trì của điều tra viên và phải có người chứng kiến. Các thành phần có mặt đầy đủ không? có thiếu ai không việc thiếu đó có ảnh hưởng đến tính hợp pháp của văn bản này hay không? có sự tham gia của giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham gia khám nghiệm tử thi để phát hiện thu thập dấu vết phục vụ việc giám định hay không.Trường hợp khai quật tử thi thì phải có quyết định của cơ quan điều tra và thông báo cho người thân thích của người chết biết trước khi tiến hành. Trường hợp người chết không có hoặc không xác định được người thân thích của họ thì thông báo cho đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi chôn cất tử thi biết. 

Nội dung của biên bản khám nghiệm tử thi phải nhận dạng tử thi (chiều dài tử thi, quần áo, vật dụng mang theo); Tình trạng tử thi, dấu vết để lại trên tử thi. Đặc biệt, cần nghiên cứu kỹ về bộ ảnh chụp tử thi là tài liệu gắ liề với biên bản khám nghiệm tử thi, cần xem xét tính phù hợp giữa các dấu vết thể hện trên bản ảnh với mô tả giấu vết trong biên bản khám nghiệm tử thi.

Khi nghiên cứu phân tích biên bản khám nghiệm tử thi , cần nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các tài liệu chứng cứ khác trong đó quan trọng nhất là các vật chứng được xác định là hung khí gây án, và lời khai của các bị can, người làm chứng, người liên quan trong vụ án mà đáng chú ý nhất là các lời khai có giá trị xác định cách thức mà các bị can thực hiện hành vi xâm phạm lên cơ thể của nan nhân. Từ đó có thể đánh giá đặc điểm của hung khí, cách thức thực hiện hành vi của bị can xâm phạm lên cơ thể của nạn nhân có phù hợp với các dấu vết trên tử thi hay không, nói cách khác cơ chế hình thành các dấu vết trên cơ thể tử thi như thế nào, các dấu vết trên tử thi có quan hệ nhân quả với hành vi của bị can hay không.