1. Khái niệm nội luật hóa

Nội luật hóa là chuyển hoá quy định trong điều ước quốc tế thành quy phạm pháp luật có giá trị bất buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân ở một quốc gia.

Trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là hình thức thể hiện sự thoả thuận giữa các chủ thể luật quốc tế (chủ yếu là quốc gia). Theo nguyên tắc chung, các bên kí kết hoặc tham gia có nghĩa vụ thực hiện các quy định trong điều ước quốc tế. Tuy nhiên, các quy định này chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với pháp nhân, thể nhân của bên kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế khi được nội luật hoá, nghĩa là khi các quy định trong điều ước quốc tế trở thành quy phạm pháp luật quốc gia.

2. Các hình thức nội luật hóa

Việc nội luật hoá được tiến hành sau khi cơ quan có thẩm quyền của quốc gia chính thức xác nhận quy định trong điều ước quốc tế ràng buộc đối với quốc gia đó (phê chuẩn). Nếu trường hợp gia nhập những điều ước quốc tế không qua thủ tục phê chuẩn thì việc nội luật hoá được tiến hành sau khi thực hiện thủ tục gia nhập. Đối với điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Chính phủ hay một cơ quan công quyền, có quy định thủ tục phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thì việc nội luật hoá được tiến hành sau khi được phê duyệt. Thực chất, nội luật hoá điều ước quốc tế là quá trình chuyển hoá hiệu lực, cụ thể hoá quy định ghì trong điều ước quốc tế mà quốc gia đã kí kết để áp dụng không chỉ đối với quốc gia, mà còn đối với cả pháp nhân, thể nhân thuộc quốc gia đó. Do đó, tuỳ thuộc vào từng điều ước quốc tế mà quốc gia thành viên có thể áp dụng nhiều hình thức để nội luật hoá điều ước quốc tế, cụ thể có các hình thức:

1) Hình thức ban hành văn kiện nhà nước quy định các quy định trong điều ước quốc tế có hiệu lực áp dụng ở quốc gia thành viên. Đây là hình thức đơn giản nhất để nói luật hoá điều ước quốc tế vì không phải ban hành nhiều quy phạm pháp luật mà chỉ thuần tuý quy định pháp nhân, thể nhân có nghĩa vụ thực hiện quy định trong từng điểu ước quốc tế cụ thể. Tuy nhiên, do các quy định trong điều ước quốc tế xác lập nhằm điều chỉnh hành vi của quốc gia thành viên nên thường không đủ mức cụ thể để điều chỉnh hành vi của pháp nhân, thể nhân khi có các hoạt động liên quan;

2) Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật để cụ thể hoá các quy định trong điều ước quốc tế. Hình thức nội luật hoá này tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản pháp luật hiện hành.

Hình thức này tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản pháp luật hiện hành.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó.

3) Hình thức bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế. Đây là hình thức khắc phục sự mâu thuẫn trong nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo yêu cầu của quy định trong điều ước quốc tế.

Nội luật hoá là phương thức thực hiện điều ước quốc tế khác biệt với việc phê chuẩn hay phê duyệt điều ước quốc tế. Nội luật hoá không nhằm mục đích thừa nhận điều ước quốc tế mà nhằm tạo ra sự ràng buộc đối với pháp nhân, thể nhân với điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia. Chính vì vậy, nội luật hoá có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các điều ước quốc tế.

Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương. Các điều ước này thường được nội luật hoá dưới nhiều hình thức, trong đó phần lớn được thực hiện bằng cách bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung quy định trong văn bản pháp luật để phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế.

3. Nguyên tắc thực hiện nội luật hóa

Khi thực hiện nội luật hóa, cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Đặc điểm của nội luật hóa điều ước quốc tế

Tính thích nghi tùy biến

Tính thích nghi tùy biến thể hiện ở việc nội luật hóa ĐƯQT không diễn ra một cách tuần tự, cố định, đều đặn, lặp đi lặp lại mà nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu nội luật hóa. Điều quan trọng hơn, quá trình ấy không chỉ thuần túy phụ thuộc vào yêu cầu nội luật hóa mà còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kinh tế – chính trị, lịch sử – địa lý khác. Nội luật hóa ĐƯQT do đó có sự biến động khó lường theo cả không gian và thời gian.

Tính đa dạng chủ thể

Ở góc độ quốc tế, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT phải là quốc gia thành viên của điều ước đó, sự chuyển hóa quy phạm điều ước dù bằng phương thức nào cùng đều nhằm thực thi một cách thực chất các cam kết mà quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc.

Ở góc độ quốc gia, chủ thể nội luật hóa ĐƯQT là những cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước có thẩm quyền liên quan đến các thao tác nội luật hóa được xác định trong pháp luật quốc gia. Chủ thể nội luật hóa ĐƯQT thường là những chủ thể có thẩm quyền lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp nhưng được giao thêm nhiệm vụ nội luật hóa trong phạm vi chức năng của mình chứ không phải là một cơ quan chuyên trách về công tác nội luật hóa.

Tính mâu thuẫn nội tại

Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình nội luật hóa là việc làm triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia, nhưng ngược lại nó cũng rất dễ dẫn đến việc tạo ra những xung đột mới. Những xung đột, mâu thuẫn mới vô tình được tạo ra trong quá trình nội luật hóa thậm chí còn có thể xuất hiện ngay trong bản thân hệ thống pháp luật quốc gia. Với nội dung hoàn toàn giống nhau, quy phạm gốc trong điều ước sẽ được áp dụng theo nguyên tắc về sự ưu tiên.

Ở một góc độ khác, nội luật hóa ĐƯQT vừa là quá trình làm cho pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật quốc tế nhưng đồng thời cũng là quá trình làm cho pháp luật quốc tế tương thích với pháp luật quốc gia.

Tính ý chí quốc gia

Chuyển hóa các quy phạm điều ước vào pháp luật quốc gia là một quá trình thể hiện rất rõ ý chí của quốc gia. Quốc gia thể hiện ý chí của mình ở việc có đặt ra vấn đề nội luật hóa hay không, có quy định các thủ tục để tiến hành nội luật hóa hay không. Dù chuyển hóa không phải là một nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế nhưng thông qua pháp luật quốc gia, mỗi nước có thể tự đặt ra nghĩa vụ cho mình. Một khi thủ tục nội luật hóa đã được quy định trong luật, các cơ quan có thẩm quyền cùng mọi cá nhân, tổ chức liên quan đều bắt buộc phải thực hiện.

Tính ý chí được thể hiện ở việc nhà làm luật xác định điều kiện để một ĐƯQT có thể được nội luật hóa.

Tính ý chí thể hiện ở việc quốc gia có ý thức trong việc giám sát sự thi hành các quy phạm “sau nội luật hóa” và xử lý các vi phạm. Nói cách khác, tính ý chí nằm ở tính tự giác trong việc thực hiện pháp luật quốc tế của mỗi quốc gia sau khi đã tiến hành các thao tác nội luật hóa.

Tính ảnh hưởng quốc tế

Ký kết, gia nhập, thực hiện các ĐƯQT nói chung luôn gắn bó mật thiết với các yếu tố chính trị quốc tế, do vậy, hoạt động nội luật hóa dù được tiến hành bởi các chủ thể trong nước và thông qua các thao tác quy định bởi luật trong nước cũng vẫn luôn đưa tới những tác động vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Về nguyên tắc, một khi quốc gia đã tự quy định nghĩa vụ nội luật hóa cho mình thì phải có những biện pháp tích cực, khả thi để thực hiện nghiêm chỉnh những quy định được chuyển hóa ấy.

Trong quá trình nội luật hóa, việc không chuyển tải được chính xác nội dung của quy phạm điều ước (dịch sai, hiểu sai, giải thích sai) cũng có thể dẫn đến việc quốc gia cố ý hoặc vô ý vi phạm luật quốc tế.

Nguy cơ này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc thực hiện ĐƯQT nói chung và nội luật hóa ĐƯQT nói riêng cần phải được thực hiện một cách khéo léo và thận trọng.

5. Tình hình nội luật hóa pháp luật quốc tế trong một số lĩnh vực tại Việt Nam

Trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương

Năm 2007, Việt Nam chính thức tham gia Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Để thực hiện các cam kết của WTO, trong 02 năm trước và sau thời điểm gia nhập WTO (2006 – 2007), Việt Nam đã sửa trên 60 văn bản luật để thực thi cam kết WTO và hàng trăm nghị định, thông tư hướng dẫn cũng đã được sửa đổi. Trong đó, đặc biệt, phải kể đến Luật Quản lý ngoại thương năm 2017. Luật điều chỉnh chủ yếu công tác quản lý nhà nước về ngoại thương bao gồm:

– Các biện pháp quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương có liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế;

– Không điều chỉnh, can thiệp vào các hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau;

– Chỉ điều chỉnh đối tượng là hàng hóa mà không điều chỉnh đối tượng là dịch vụ.

Luật có nhiều điều khoản dẫn chiếu đến áp dụng điều ước quốc tế. Việc ban hành Luật này nhằm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế. Luật Quản lý ngoại thương có hơn 30 điều, khoản viện dẫn áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trong lĩnh vực hình sự

Ngày 28/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 83/2014/QH13 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (Công ước Chống tra tấn). Theo Nghị quyết số 83/2014/QH13, Việt Nam xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm phù hợp với các quy định của Công ước Chống tra tấn. Để nội luật hóa các quy định này, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quan tâm đặc biệt.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung một số quy định nhằm nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tra tấn như:

– Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân” vào tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điểm b khoản 3 Điều 157, mức hình phạt từ năm năm tù đến 12 năm tù)

– Bổ sung hành vi khách quan “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào” vào tội dùng nhục hình (Điều 373).

Điều luật cũng quy định nếu người phạm tội làm nạn nhân tự sát thì bị phạt tù từ bảy năm đến 12 năm (khoản 3); làm người bị nhục hình chết thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (khoản 4).

– Bổ sung tình tiết tăng nặng định khung vào tội bức cung (Điều 374).

Trường hợp “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung” sẽ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm (khoản 2); phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Làm người bị bức cung chết; dẫn đến làm oan người vô tội; dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (khoản 4).

Trong các vấn đề về quyền con người

Ngày 13/12/2006, Liên Hợp Quốc thông qua Công ước về quyền của người khuyết tật và Việt Nam đã ký ngày 22/11/2007, phê chuẩn ngày 05/02/2015. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện công ước và yêu cầu hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực liên quan đến người khuyết tật, đến nay, Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa các quyền của người khuyết tật. Về cơ bản, các quy định liên quan đến người khuyết tật của Việt Nam tương đối phù hợp với Công ước về quyền của người khuyết tật.

Ngày 18/12/1979, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước này vào ngày 29/7/1980 và phê chuẩn vào ngày 27/11/1981. Để nội luật hóa các quy định của Công ước CEDAW, Việt Nam đã ban hành một số luật, trong đó đáng chú ý là Luật Bình đẳng giới. Nhiều quy định của Luật Bình đẳng giới đã được xây dựng theo hướng nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế về chống phân biệt đối xử và bình đẳng giới, đảm bảo thể chế hóa các quy định của các điều ước quốc tế này để thực hiện.

Ví dụ, Luật đã đưa vào những nội dung rất mới như quy định về việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 21), thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (Điều 22)…

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên hoặc các nội dung khác liên quan tới giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án, Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê