Phá sản ngân hàng là việc đóng cửa ngân hàng mất khả năng thanh toán bởi cơ quan cấp phép. Chỉ ủy viên Hội đồng Ngân hàng tiểu bang, cơ quan điều tiết ngân hàng được cấp phép bởi tiểu bang, hay kiểm toán trưởng tiền tệ, người điều phối các ngân hàng quốc gi, có thể quyết định đóng cửa một ngân hàng. Nếu ngân hàng được bảo hiểm liên bang - ngày nay tất cả tiền gửi ngân hàng được Bảo hiểm tiền gửi Liên bang - ngân hàng sẽ được sự bảo trợ của Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang, sẽ giải quyết bất kỳ trái quyền nào cho các chủ nợ, bao gồm trái quyền của người gửi tiền bảo hiểm lên đến 100,000$ mỗi tài khoản. FDIC có quyền thanh lý, các tài sản ngân hàng khi cần thiết nhằm đáp ứng các trái quyền, và buộc phải thanh lý mọi trái quyền của chủ nợ bằng cách chọn lựa phương pháp giải quyết phá sản, là phương pháp đỡ tốn kém chi phí nhất đối với Quỹ bảo hiểm ngân hàng, do FDIC quản lý.

Cách thanh lý ít tốn kém nhất cho một ngân hàng phá sản là mua và đảm nhận, theo đó một ngân hàng khác đảm nhận và mua một số hay tất cả các tài sản của ngân hàng phá sản, và đảm nhận nợ tiền gửi của nó. Trong các trường hợp khắc nghiệt, ngân hàng phá sản hấu như không có giá trị còn lại, và do đó không có người đấu giá sẵn lòng mua lại nó, quỹ bảo hiểm sẽ trả cho người gởi tiền có bảo hiểm của ngân hàng bị thanh lý giá trị bồi thường cho họ, lên đến giới hạn 100,000$ một tài khoản.

Hình thức bảo vệ người gửi tiền này được biết như chi trả giảm nhẹ; việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền được giảm nhẹ theo nghĩa người gửi tiền không bảo hiểm, là người gửi tiền trong ngân hàng phá sản lớn hơn giới hạn bảo hiểm, có thể chịu khoản lỗ tiền gốc hay lãi. Sự khác biệt lớn giữa hai phương pháp là, trong giao dịch mua bán, ngân hàng mua lại đảm nhận mọi nợ tiền gửi, vì thế quyền yêu cầu bồi thường của người gửi tiền có bảo hiểm hay không đểu được chi trả đầy đủ.

Từ khi có bảo hiểm tiền gửi liên bang bắt đầu vào thập niên 1930, không có ngân hàng lớn nào ở Mỹ được phép phá sản bởi các cơ quan điêu tiết ngân hàng, vì lo ngại sự phá sản của ngân hàng khu vực lơn lớn hay ngân hàng trung tâm tiền tệ sẽ phá đổ thị trường tài chính. Lập luận “quá lớn không thể vỡ nợ” (too big to fail) được kiểm nghiệm nhiều lần, như vụ vỡ nợ của Continental Illinois năm 1984, và trong kỳ suy thoái kinh tế 1990-1991, khi mà các ngân hàng hàng đầu chịu những khoản lỗ tiền vay lớn.

Sự sáp nhập các ngân hàng thua lỗ được FDIC hỗ trợ trở thành các định chế mạnh, và sự mua lại các định chế tiết kiệm gặp trục trặc đã tăng tốc nghiệp vụ ngân hàng liên tiểu bang những năm 1980 và 1990, cho phép các ngân hàng vùng và ngân hàng trung tâm tiền tệ thiết lập cơ sở tại các thị trường ngoài tiểu bang, bằng cách mua lại và tái cơ cấu các định chế gặp trục trặc. Thông thường, những giao dịch sáp nhập này gồm một số hình thức trợ giúp quỹ bảo hiểm dẫn đến khoản thanh toán (khoản cho vay), thể hiện sự chênh lệch giữa giá trị bút toán khoản vay khó đòi tại ngân hàng phá sản, và giá được trả bởi tổ chức mua lại.