Trả lời:

Trong nhiều trường hợp, quốc gia ven biển không thể mở rộng phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của mình ra tới giới hạn xa nhất về phía biển như là luật quốc tế cho phép bởi vì các quốc gia đối diện hoặc liền kề cũng có yêu sách hợp pháp tương ứng. Vì vậy, vấn đề phân định vùng biển chồng lấn nảy sinh giữa các quốc gia và cần phải được giải quyết trên cơ sở quy định của luật quốc tế.

1. Khí niệm phân định biển hiểu như thế nào ?

Trong các văn bản pháp lý quốc tế, thuật ngữ “phân định - delimitation” được sử dụng với hai nghĩa khác nhau nhằm đề cập tới việc xác định ranh giới các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia (Điều 50 Công ước luật biển năm 1982), hoặc xác định đường ranh giới chung trong trường hợp tồn tại vùng biển chồng lẩn giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền kề (Điều 15, Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982). Tuy nhiên, phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong vụ phân định thềm lục địa ở Biển Aegean (Greece -Turkey) ngày 19 tháng 12 năm 1978 đã xác định mục đích của phân định biển là “vạch một con đường chính xác hoặc nhiều con đường chính xác nơi gặp nhau của các vùng không gian tại đó thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền tương ứng của hai quốc gia”. Như vậy, theo quan điểm của ICJ, phân định biển chỉ đặt ra trong trường hợp tồn tại vùng biển chồng lấn có cùng danh nghĩa pháp lý, và vì vậy, cần xác định đường ranh giới chung giữa các quốc gia. Từ góc độ này, có thể định nghĩa phân định biển là hoạt động do hai hay nhiều quốc gia thực hiện, trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp hoặc thông qua bên thứ ba, phù hợp với các quy định của luật quốc tế, nhằm xác định các danh nghĩa pháp lý tương ứng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lẩn.

Việc phân định vùng biển chồng lấn không những giúp các quốc gia giải quyết tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển mà còn giúp cho các quốc gia thực thi một cách thực tế và hiệu quả các vấn đề về khai thác, quản lý biển và thực thi quyền tài phán trên các vùng biển.

2. Đặc điểm việc phân định biển giữa các quốc gia

2.1 Chủ thể phân định biển

Quá trình phân định biển có tính chính trị, pháp lý và kĩ thuật liên quan đến ít nhất là hai quốc gia - chủ thể của luật quốc tế được đặc trưng bởi các yếu tố cấu thành và thuộc tính chủ quyền. Do không có lãnh thổ xác định nên các tổ chức quốc tế, ví dụ như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Cơ quan quyền lực đáy đại dương (ISA)... không thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế về phân định biển với tư cách chủ thể. Tương tự, quan hệ về phân định biển giữa các bang trong một quốc gia liên bang hay giữa các vùng, miền của một quốc gia với nhau cũng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế về phân định biển.

2.2 Điều kiện phân định biển

Phân định biển chỉ đặt ra trong trường hợp tồn tại sự chồng lấn các vùng biển mà các quốc gia tranh chấp đều có cùng danh nghĩa pháp lý, tức là các quốc gia đều có cơ sở pháp lý để yêu sách các vùng biển của mình. Ví dụ, theo quy định của Công ước luật biển năm 1982, cả hai quốc gia có bờ biển đối diện hay liền kề đều có quyền mở rộng vùng đặc quyền kinh tế ra tới giới hạn 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Như vậy, hai quốc gia này có cùng danh nghĩa pháp lý để có vùng đặc quyền kinh tế mà Công ước luật biển năm 1982 trao cho họ. Trong vụ thềm lục địa Libya - Malta năm 1984, ICJ cho rằng, “vấn đề danh nghĩa... và vấn đề phân định... là hai vấn đề không hoàn toàn khác biệt nhau mà ngược lại còn bổ sung cho nhau”. ITLOS cũng đồng tình với quan điểm này khi cho ràng “phân định biển giả định trước một vùng có các danh nghĩa chồng lấn nên bước đầu tiên của bất kì quá trình phân định nào sẽ là xác định liệu có các danh nghĩa hay không và các danh nghĩa đó có chồng lấn hay không”.1 Để xác định được điều này, trong vụ Bangladesh - Myanmar năm 2012, trước hết ITLOS xem xét quan điểm của các bên liên quan đến danh nghĩa và phân tích sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa Bangladesh và Myanmar. Sau đó, ITLOS xác định liệu các bên có danh nghĩa với thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý hay không và các danh nghĩa đó có chồng lấn với nhau hay không. Trên cơ sở kết luận rằng, cả Bangladesh và Myanmar đều có danh nghĩa đối với thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý và đệ trình của hai quốc gia này lên ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) cho thấy các danh nghĩa đó chồng lấn với nhau tại vùng biển tranh chấp, ITLOS mới đưa ra quyết định thực hiện việc phân định thềm lục địa giữa hai quốc gia. Như vậy, thực chất của việc phân định biển không phải là xác định hành vi vi phạm luật quốc tế, mà là xác định tác động của danh nghĩa pháp lý của các vùng biển mà mỗi quốc gia có được do vận dụng các quy định của luật quốc tế.

2.3 Mục đích và cách thức phân định biển

Khác với hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia nhằm thiết lập ranh giới các vùng biển của mình, phân định biển là hành vi pháp lý quốc tế, được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên hoặc thông qua cơ quan tài phán quốc tế nham phân tách các vùng biển chồng lấn về danh nghĩa pháp lý giữa hai hay nhiều quốc gia. Mục đích của quá trình phân định biển là áp dụng các quy định của luật quốc tế để thiết lập một đường ranh giới quốc tế phân chia vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia liên quan.

Tính quốc tế của hoạt động phân định biển đã được ICJ đề cập trong án lệ giải quyết tranh chấp về đánh cá giữa Anh và Na Uy (Anglo - Norwegian Fisheries Case) năm 1951 và được khẳng định lại trong vụ Vịnh Main năm 1984: “Không có việc phân biển nào giữa các quốc gia đối diện hoặc liền kề có thể được thực hiện bởi hành vi pháp lý đơn phương của một trong các quốc gia hữu quan”. Như vậy, trên cơ sở luật quốc tế, các quốc gia ven biển có quyền đơn phương tuyên bố ranh giới các vùng biển của mình nhưng giá trị pháp lý quốc tế của các tuyên bố đó sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các quốc gia hữu quan.

2.4 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động phân định biển

Phân định biển là hành vi pháp lý quốc tế có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của quốc gia khác, vì vậy, hoạt động này cần phải được điều chỉnh bởi các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do chính các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên. Sự hình thành và phát triển của luật quốc tế về phân định biển luôn gắn với quá trình hình thành các vùng biển trong luật quốc tế. Trước năm 1945, khi mà phía ngoài lãnh hải là biển quốc tế và chiều rộng lãnh hải chỉ được xác định là vùng nước gần bờ thì vấn đề phân định biển chưa thực sự được các quốc gia quan tâm. Sau tuyên bố của Tổng thống Mỹ (Tuyên bố Truman) năm 1945, nhiều vùng biển mới dần dần được hình thành và hệ quả là sự chồng lấn về lãnh hải giữa các quốc gia không còn là trường hợp duy nhất cần phải phân định.

Trước hết, pháp luật quốc tế hiện nay về phân định biển được ghi nhận trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước luật biển năm 1982. Trong mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên, Công ước luật biển năm 1982 “có giá trị hơn các Công ước Giơnevơ ngày 29 tháng 4 năm 1958 về luật biển” (Điều 311 Công ước luật biển năm 1982). Mặt khác, “điều này không đụng chạm đến các điều ước quốc tế được phép hay được duy trì một cách rõ ràng theo các điều khác của Công ước” (Điều 311 khoản 5 Công ước luật biển năm 1982). Ngoài ra, trong trường hợp giữa các quốc gia hữu quan tồn tại các điều ước đang có hiệu lực thì các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa sẽ được thực hiện theo đúng điều ước đó (khoản 4 Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982).

Hơn nữa, Luật quốc tế về phân định biển còn tồn tại dưới hình thức tập quán quốc tế đã được phát triển thông qua án lệ của tòa án quốc tế và trọng tài quốc tế. Ví dụ, theo quan điểm của ICJ, Điều 6 Công ước Giơnevơ 1958 về Thềm lục địa và Điều 15 Công ước luật biển năm 1982 “là một phần của luật tập quán (quốc tế)”. Trong vụ Nicaragua - Colombia (2012) và vụ Peru - Chile (2014), mặc dù ICJ lưu ý rằng Colombia và Peru chưa là thành viên của Công ước luật biển năm 1982 nhưng Tòa thấy rằng việc áp dụng khoản 1 Điều 74 và khoản 1 Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 để giải quyết hai vụ việc phân định trên là hợp lý, bởi vì các nguyên tắc được đặt ra trong các điều khoản này đã được chuyển hóa thành luật tập quán.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)