1. Phân hiệu của trường đại học là gì?

Phân hiệu của trường đại học là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của một cơ sở giáo dục đại học, được thành lập tại địa phương khác với nơi đặt trụ sở chính nhằm mở rộng phạm vi đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Đây là mô hình được pháp luật Việt Nam quy định nhằm tạo điều kiện phát triển mạng lưới giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân ở nhiều khu vực mà không cần thành lập thêm một trường đại học độc lập.

Theo khoản 1 Điều 21 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018), phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học Việt Nam tại Việt Nam là đơn vị thuộc cơ sở giáo dục đại học, được thành lập tại tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương khác với nơi đặt trụ sở chính.

Từ quy định này có thể thấy, phân hiệu không phải là một trường đại học riêng biệt mà chỉ là đơn vị trực thuộc trường đại học hoặc cơ sở giáo dục đại học đã được thành lập hợp pháp. Mọi hoạt động của phân hiệu đều gắn với cơ sở giáo dục đại học chủ quản và chịu sự quản lý thống nhất về tổ chức, chuyên môn, tài chính cũng như chất lượng đào tạo.

Xét dưới góc độ pháp lý, phân hiệu không có tư cách pháp nhân độc lập. Điều này được lý giải trên cơ sở Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định của điều luật này, một tổ chức chỉ được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đầy đủ bốn điều kiện gồm:

  • Được thành lập theo quy định của pháp luật.
  • Có cơ cấu tổ chức theo quy định.
  • Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.
  • Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Trong khi đó, phân hiệu tuy có cơ cấu tổ chức riêng nhưng không có tài sản độc lập và không tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Mọi quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hoạt động của phân hiệu cuối cùng đều thuộc về cơ sở giáo dục đại học chủ quản. Chính vì vậy, phân hiệu không được xem là một pháp nhân độc lập.

Trên thực tế, nhiều phân hiệu được phép sử dụng con dấu riêng hoặc mở tài khoản ngân hàng để phục vụ công tác quản lý, thu chi và giao dịch hành chính. Tuy nhiên, đây chỉ là cơ chế phân cấp quản lý nội bộ theo sự ủy quyền của Hiệu trưởng trường đại học. Việc có con dấu hoặc tài khoản riêng hoàn toàn không làm thay đổi bản chất pháp lý của phân hiệu và cũng không làm phát sinh tư cách pháp nhân.

Về tổ chức quản lý, phân hiệu chịu sự điều hành trực tiếp của Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học. Người đứng đầu phân hiệu là Giám đốc phân hiệu, do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm và giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật cũng như quy chế tổ chức của nhà trường.

Ngoài sự quản lý của trường đại học chủ quản, phân hiệu còn chịu sự quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt phân hiệu đối với các nội dung thuộc phạm vi quản lý địa phương như đất đai, môi trường, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, nghĩa vụ tài chính và các chính sách xã hội liên quan.

Trong quá trình hoạt động, phân hiệu phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Hiệu trưởng về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, nhân sự và các hoạt động chuyên môn khác; đồng thời thực hiện nghĩa vụ báo cáo với chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, bản chất của phân hiệu là đơn vị phụ thuộc về mặt pháp lý nhưng được tổ chức để thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn tương đối đầy đủ. Mô hình này giúp trường đại học mở rộng quy mô đào tạo mà vẫn duy trì sự thống nhất trong quản trị, bảo đảm chất lượng đào tạo và trách nhiệm pháp lý của cơ sở giáo dục đại học.

 

2. Phân biệt phân hiệu và cơ sở giáo dục đại học

Mặc dù đều tham gia hoạt động đào tạo bậc đại học, nhưng phân hiệu và cơ sở giáo dục đại học là hai mô hình hoàn toàn khác nhau về địa vị pháp lý, cơ chế quản trị, quyền tự chủ cũng như phạm vi hoạt động. Việc phân biệt rõ hai mô hình này giúp người học, nhà đầu tư và các tổ chức tuyển dụng hiểu đúng giá trị pháp lý của từng loại hình.

Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở địa vị pháp lý. Cơ sở giáo dục đại học là một pháp nhân độc lập, được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có đầy đủ quyền, nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật. Trong khi đó, phân hiệu chỉ là đơn vị trực thuộc cơ sở giáo dục đại học, không có tư cách pháp nhân riêng.

Người đại diện theo pháp luật của cơ sở giáo dục đại học là Hiệu trưởng hoặc Giám đốc đại học theo quy định của pháp luật và điều lệ tổ chức. Đối với phân hiệu, Giám đốc phân hiệu chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công hoặc ủy quyền của Hiệu trưởng, không phải là người đại diện theo pháp luật của một pháp nhân độc lập.

Về cơ cấu quản trị, cơ sở giáo dục đại học có Hội đồng trường hoặc Hội đồng đại học để quyết định các vấn đề chiến lược về tổ chức, tài chính, nhân sự và phát triển. Phân hiệu không có Hội đồng trường riêng mà chịu sự quản lý thống nhất của Hội đồng trường và Ban Giám hiệu tại trụ sở chính.

Sự khác biệt cũng thể hiện ở quyền tự chủ tài chính. Một trường đại học có thể quản lý tài sản, hạch toán tài chính và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, tài sản của phân hiệu thuộc quyền quản lý của cơ sở giáo dục đại học chủ quản và việc thu, chi được thực hiện theo cơ chế hạch toán phụ thuộc.

Đối với hoạt động đào tạo, cơ sở giáo dục đại học được quyền mở ngành, xây dựng chương trình đào tạo và tổ chức tuyển sinh khi đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định. Phân hiệu không có thẩm quyền tự quyết các vấn đề này mà chỉ triển khai chương trình đào tạo đã được cơ sở giáo dục đại học chủ quản phê duyệt.

Một điểm khác biệt quan trọng khác là thẩm quyền cấp văn bằng. Chỉ Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học mới có quyền ký và cấp bằng tốt nghiệp cho người học. Phân hiệu không được tự cấp văn bằng, kể cả khi trực tiếp tổ chức giảng dạy và quản lý sinh viên trong suốt khóa học.

Ngoài ra, phạm vi hoạt động của hai mô hình cũng khác nhau. Cơ sở giáo dục đại học được thành lập tại địa điểm ghi trong quyết định thành lập và có thể thành lập thêm các phân hiệu ở địa phương khác nếu đáp ứng điều kiện của pháp luật. Ngược lại, phân hiệu luôn tồn tại trên cơ sở phụ thuộc vào trường đại học chủ quản và không thể hoạt động độc lập.

Nhìn chung, cơ sở giáo dục đại học là chủ thể pháp lý độc lập có quyền tự chủ toàn diện trong phạm vi pháp luật cho phép, còn phân hiệu là đơn vị trực thuộc được thành lập để mở rộng phạm vi đào tạo nhưng vẫn chịu sự quản lý thống nhất của trường đại học chủ quản. Đây là cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý cũng như quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong hoạt động giáo dục đại học.

 

3. Giá trị pháp lý của bằng đại học tại phân hiệu

Một trong những vấn đề được người học quan tâm nhất khi lựa chọn học tại phân hiệu là giá trị pháp lý của văn bằng tốt nghiệp. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam đã có quy định thống nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người học, đồng thời khẳng định giá trị pháp lý của bằng cấp không phụ thuộc vào việc sinh viên học tại trụ sở chính hay phân hiệu.

Căn cứ Điều 26 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Thông tư số 27/2019/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học, người có thẩm quyền ký và cấp bằng tốt nghiệp đại học là Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học hoặc người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật.

Điều này có nghĩa, mặc dù sinh viên học tập tại phân hiệu nhưng văn bằng vẫn do trường đại học chủ quản cấp, không phải do phân hiệu cấp. Phân hiệu chỉ là nơi tổ chức đào tạo, quản lý người học và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo sự phân công của cơ sở giáo dục đại học.

Theo quy định hiện hành, trên trang chính của bằng tốt nghiệp đại học chỉ thể hiện các nội dung cơ bản như:

  • Tên cơ sở giáo dục đại học cấp bằng.
  • Tên văn bằng.
  • Ngành đào tạo.
  • Họ và tên người được cấp bằng.
  • Ngày, tháng, năm sinh.
  • Xếp loại tốt nghiệp (nếu có).
  • Ngày cấp bằng.
  • Chữ ký của Hiệu trưởng và con dấu của cơ sở giáo dục đại học.

Pháp luật không quy định ghi trên văn bằng việc người học theo học tại trụ sở chính hay phân hiệu. Đồng thời, trang chính của văn bằng cũng không ghi hình thức đào tạo như chính quy, vừa làm vừa học hay đào tạo từ xa theo quy định hiện hành.

Thông tin về quá trình học tập, bao gồm nơi đào tạo, các học phần đã hoàn thành, số tín chỉ tích lũy, kết quả học tập và các nội dung liên quan sẽ được thể hiện trong phụ lục văn bằng. Đây là tài liệu đi kèm văn bằng nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo thuận lợi cho việc đối chiếu thông tin khi cần thiết.

Về giá trị pháp lý, bằng đại học cấp cho sinh viên học tại phân hiệu có hiệu lực hoàn toàn tương đương với bằng cấp cho sinh viên học tại trụ sở chính nếu chương trình đào tạo được tổ chức đúng quy định và phân hiệu đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động đào tạo.

Người tốt nghiệp tại phân hiệu được hưởng đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật, bao gồm:

  • Đăng ký dự tuyển công chức, viên chức nếu đáp ứng điều kiện của vị trí tuyển dụng.
  • Tham gia tuyển dụng tại các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước.
  • Học tiếp trình độ thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định về tuyển sinh sau đại học.
  • Thực hiện các thủ tục công nhận văn bằng tại nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan.

Do đó, việc lựa chọn học tại phân hiệu không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của văn bằng. Điều quan trọng người học cần quan tâm là phân hiệu phải được thành lập hợp pháp, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động đào tạo đối với ngành học tương ứng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật.

 

4. Các quy định về thành lập và hoạt động của phân hiệu

Việc thành lập và vận hành phân hiệu trường đại học được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Giáo dục đại học, Nghị định số 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học và Nghị định số 125/2024/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Các quy định này tạo nên khung pháp lý thống nhất nhằm bảo đảm việc mở rộng mạng lưới đào tạo đi đôi với kiểm soát chất lượng giáo dục.

Đối với điều kiện thành lập phân hiệu, pháp luật yêu cầu đề án thành lập phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và đáp ứng các điều kiện về đất đai, cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính cũng như môi trường giáo dục.

Đối với phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học công lập, địa điểm xây dựng phải có diện tích đất tối thiểu 2 ha, bảo đảm môi trường giáo dục an toàn và có dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Đối với phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học tư thục, ngoài các điều kiện tương tự về đất đai và môi trường giáo dục, nhà đầu tư phải bảo đảm mức vốn đầu tư tối thiểu 250 tỷ đồng, không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất. Tại thời điểm thẩm định, giá trị vốn đã thực hiện phải đạt trên 150 tỷ đồng theo quy định của Nghị định số 125/2024/NĐ-CP.

Đối với phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam, mức vốn đầu tư tối thiểu là 500 tỷ đồng, không bao gồm giá trị đất xây dựng. Giá trị vốn đầu tư thực hiện tại thời điểm thẩm định phải đạt trên 250 tỷ đồng và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Sau khi được quyết định thành lập, phân hiệu chưa được tuyển sinh ngay mà phải tiếp tục thực hiện thủ tục đề nghị cho phép hoạt động đào tạo. Theo Điều 100 Nghị định số 125/2024/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là người có thẩm quyền quyết định cho phép phân hiệu hoạt động đào tạo.

Để được cấp phép hoạt động, phân hiệu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như:

  • Có quyết định thành lập hợp pháp.
  • Có cơ sở vật chất, phòng học, thư viện, phòng thí nghiệm và trang thiết bị đáp ứng quy mô đào tạo.
  • Có chương trình đào tạo, giáo trình và tài liệu giảng dạy phù hợp quy định.
  • Có đội ngũ giảng viên cơ hữu và cán bộ quản lý đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn; giảng viên cơ hữu phải đảm nhận tối thiểu 70% khối lượng chương trình đào tạo.
  • Có nguồn lực tài chính bảo đảm duy trì hoạt động lâu dài.
  • Có quy chế tổ chức và hoạt động của phân hiệu được ban hành hợp pháp.

Trong quá trình hoạt động, phân hiệu phải duy trì đầy đủ các điều kiện đã được cấp phép, thực hiện công khai điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, chấp hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước.

Nếu vi phạm quy định pháp luật, phân hiệu có thể bị đình chỉ hoạt động đào tạo theo Điều 101 Nghị định số 125/2024/NĐ-CP trong các trường hợp như gian lận để được thành lập hoặc cấp phép hoạt động, không còn đáp ứng điều kiện đào tạo, vi phạm pháp luật về giáo dục ở mức phải đình chỉ, không công khai điều kiện bảo đảm chất lượng hoặc không triển khai đào tạo trong thời hạn 2 năm kể từ ngày được cấp phép.

Trường hợp vi phạm nghiêm trọng hoặc không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến đình chỉ trong thời hạn quy định, phân hiệu có thể bị giải thể. Khi đó, cơ sở giáo dục đại học chủ quản có trách nhiệm giải quyết toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp của sinh viên, giảng viên và người lao động theo quy định của pháp luật.

 

5. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về phân hiệu đại học

Phân hiệu có được tự cấp bằng đại học không?

Không. Theo Luật Giáo dục đại học và Thông tư số 27/2019/TT-BGDĐT, phân hiệu không có thẩm quyền cấp văn bằng. Người ký và cấp bằng tốt nghiệp luôn là Hiệu trưởng hoặc người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học chủ quản. Vì vậy, bằng tốt nghiệp của sinh viên học tại phân hiệu đều do trường đại học cấp.

Bằng đại học của sinh viên học tại phân hiệu có ghi tên phân hiệu không?

Không. Trang chính của văn bằng chỉ ghi tên cơ sở giáo dục đại học cấp bằng và các thông tin theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tên phân hiệu hoặc địa điểm học tập không được ghi trên văn bằng mà được thể hiện trong phụ lục văn bằng nếu cần.

Học tại phân hiệu có làm giảm giá trị của bằng tốt nghiệp không?

Không. Khi phân hiệu được thành lập và hoạt động hợp pháp, văn bằng do trường đại học cấp có giá trị pháp lý như nhau trên phạm vi cả nước. Người học tại phân hiệu có đầy đủ quyền tham gia tuyển dụng, dự tuyển công chức, viên chức hoặc học lên trình độ cao hơn giống như sinh viên học tại trụ sở chính.

Sinh viên có được chuyển từ phân hiệu về học tại trụ sở chính không?

Có thể. Việc chuyển địa điểm học tập được xem xét theo quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định nội bộ của từng trường. Thông thường, sinh viên phải đáp ứng các điều kiện về điểm trúng tuyển, chỉ tiêu đào tạo còn lại của ngành học và được Hiệu trưởng chấp thuận.

Việc phân hiệu có con dấu và tài khoản riêng có đồng nghĩa với việc là pháp nhân độc lập không?

Không. Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc có con dấu hoặc tài khoản riêng không phải là căn cứ xác lập tư cách pháp nhân. Con dấu và tài khoản của phân hiệu chỉ phục vụ hoạt động quản lý, giao dịch hành chính theo sự phân cấp của trường đại học chủ quản. Mọi quyền và nghĩa vụ pháp lý cuối cùng vẫn thuộc về cơ sở giáo dục đại học.

Chất lượng đào tạo giữa phân hiệu và trụ sở chính được bảo đảm như thế nào?

Phân hiệu phải thực hiện chương trình đào tạo thống nhất do cơ sở giáo dục đại học ban hành và đáp ứng các tiêu chuẩn về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật. Theo Nghị định số 125/2024/NĐ-CP, giảng viên cơ hữu phải đảm nhận tối thiểu 70% khối lượng chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, nhiều trường còn thực hiện luân chuyển giảng viên từ trụ sở chính đến giảng dạy tại phân hiệu nhằm bảo đảm chuẩn đầu ra, nội dung chương trình và chất lượng đào tạo được thống nhất trên toàn hệ thống.

Ngoài ra, quý bạn đọc cũng có thể xem thêm một số nội dung liên quan đến phân hiệu khác như: