- 1. Quan niệm về nhận thức theo Chủ nghĩa Mác- Lênin
- 2. Phân loại nhận thức dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng
- 3. Phân loại nhận thức dựa vào tính tự phát, tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
- 4. Đặc điểm của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù.
- 4.1. Nhận thức là quá trình tư duy con người
- 4.2. Nhận thức đi từ trừu tượng đến cụ thể
- 5. Vai trò của nhận thức
1. Quan niệm về nhận thức theo Chủ nghĩa Mác- Lênin
Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ. Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Trong Bút ký triết học, V.I. Lênin đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhận thức. Ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan đi “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”(1). Theo quan điểm đó, nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng giai đoạn cụ thể để từ đó rút ra kết luận về bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các phạm trù.
2. Phân loại nhận thức dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng
Nhận thức kinh nghiệm hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm là kết quả của nó, được phân làm hai loại:
Tri thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất. Tri thức này rất phong phú, nhờ có tri thức này con người có vốn kinh nghiệm sống dùng để điều chỉnh hoạt động hàng ngày.
Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa học loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là cơ sở để hình thành nhận thức khoa học và lý luận.
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Nhận thức lý luận (gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý luận có tính gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng. Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, có quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể. Vì nó gắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận. Ngược lại, mặc dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn. Thông qua đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến.
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững bản chất, chức năng của từng loại nhận thức đó cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều.
3. Phân loại nhận thức dựa vào tính tự phát, tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật. Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn với những quan niệm sống thực tế hàng ngày. Vì thế, nó thường xuyên chi phối hoạt động của con người trong xã hội. Thế nhưng, nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở bề ngoài, ngẫu nhiên tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học được.
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật. Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực. Nó vận dụng một cách hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu. Vì thế nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ.
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học. Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người.
4. Đặc điểm của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người có các đặc điểm sau: 1) nhận thức là quá trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất; 2) nhận thức tuân thủ nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể; 3) nhận thức cũng chính là sự trừu tượng hoá, khái quát hoá. Việc phân tích các đặc điểm trên giúp chúng ta có thể luận giải vai trò của nhận thức đối với việc sáng tạo các khái niệm, phạm trù.
4.1. Nhận thức là quá trình tư duy con người
Nhận thức là quá trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất.
Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng, nhận thức cần phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất. Bởi vì, có như vậy con người mới đạt tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới khách quan nói chung. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật cũng cho thấy, trong thế giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau; cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua cái cá biệt. Chẳng hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng.
Quá trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất giúp con người có thể rút ra những đặc tính chung của một lớp sự vật, qua đó đúc kết thành các khái niệm, phạm trù. Mác đã vận dụng đặc điểm này của nhận thức để nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người. Qua sự khảo sát tiến trình vận động, phát triển lịch sử của từng dân tộc (quốc gia) riêng biệt, từng thời đại riêng biệt, Mác đã đi tới việc thiết lập một hệ thống các phạm trù kinh tế - xã hội, như phương thức sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, hình thái kinh tế - xã hội, Nhà nước, cách mạng xã hội, giai cấp và đấu tranh giai cấp, v.v. Dựa trên hệ thống các phạm trù đó, Mác đã xây dựng nên những học thuyết khoa học về hình thái kinh tế - xã hội, về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Các học thuyết này chứa đựng những phạm trù, nguyên lý, quy luật chung làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu lịch sử của các dân tộc trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
4.2. Nhận thức đi từ trừu tượng đến cụ thể
Đi từ trừu tượng đến cụ thể là cách cải biến về mặt lý luận khoa học những tư liệu của trực quan thành những khái niệm, phạm trù và là phương pháp vận động của tư duy đi từ một hiện tượng thực tế đã được ghi lại trong biểu tượng hết sức trừu tượng xác định của nó tới một hiện tượng khác thực tế đã có. Đi từ trừu tượng đến cụ thể chính là yêu cầu của lôgíc biện chứng. Phương pháp đó cho phép chủ thể nhận thức thâm nhập vào bản chất của đối tượng nghiên cứu, hình dung được tất cả các mặt và quan hệ tất yếu của nó với thế giới xung quanh. Theo nguyên tắc này thì nhận thức phải bắt đầu từ cái cụ thể cảm tính, từ các đặc tính hay khái niệm trừu tượng phản ánh những mặt, những quan hệ chung đơn giản nhất của khách thể nhận thức, rồi từ đó đi đến cái cụ thể trong tư duy, tức là những khái niệm, phạm trù chung nhất.
Bộ Tư bản của Mác là một ví dụ điển hình của việc quán triệt, áp dụng nguyên tắc nhận thức này. Trong đó, Mác bắt đầu từ chỗ phân tích những đặc tính đơn giản nhất, trừu tượng nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, như hàng hoá, giá trị, tiền tệ, v.v… để đi đến nhận thức bản chất của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, cũng như cách thức nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân như một hàng hoá. Trên cơ sở nghiên cứu phạm trù lao động xã hội, ông đã phát hiện ra: 1) Mối quan hệ giữa người và người ẩn nấp đằng sau mối quan hệ giữa hàng hoá - giá trị - giá cả; 2) Bản chất bóc lột sức lao động của nhà tư bản; 3) Sự tha hoá lao động và mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.
5. Vai trò của nhận thức
Trừu tượng hoá và khái quát hoá là một năng lực quan trọng của tư duy con người, là công cụ hữu hiệu giúp con người có thể sáng tạo nên những sản phẩm tinh thần kỳ diệu, trong đó có các khái niệm, phạm trù. Nhờ có năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá, tư duy con người có thể bỏ qua những cái ngẫu nhiên, không cơ bản của đối tượng nhận thức để tách cái chung khỏi cái riêng, cái bản chất khỏi cái hiện tượng, cái tất yếu khỏi cái ngẫu nhiên. Chính cái chung, cái bản chất, cái tất yếu đó là cơ sở để thiết lập nên các khái niệm, phạm trù. Với nghĩa như vậy, Mác viết: “… khi mọi sự vật, được trừu tượng đến cùng… thì người ta sẽ đi đến chỗ có được những phạm trù lôgíc…”(6). Sự khái quát hoá cho phép tư duy con người tìm thấy cơ sở, sự liên hệ thống nhất nội tại, tính quy luật của các đối tượng. Kết quả của sự khái quát được lưu lại trong các khái niệm, phạm trù.
Nhờ có tư duy biện chứng sâu sắc cũng như năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá cao, Lênin đã xác định một cách khoa học nội hàm của phạm trù vật chất. Dựa trên sự khảo sát các sự vật, hiện tượng phong phú của hiện thực khách quan, từ thế giới vi mô đến thế giới vĩ mô, từ vô cơ đến hữu cơ, từ tự nhiên đến xã hội, ông đã khái quát nên định nghĩa nổi tiếng về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”(7). Theo đó, vật chất không phải là một yếu tố, thực thể cụ thể, như nước, lửa, không khí, đất hay nguyên tử… mà là tổng thể các yếu tố đó, là toàn bộ thực tại khách quan với đặc trưng là khi tác động vào giác quan nhận biết của con người thì gây nên cảm giác. Vật chất là phạm trù có ngoại diên rộng nhất, bao quát toàn bộ mọi dạng tồn tại hiện thực của nó. Định nghĩa này của Lênin có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn. Nó đã vượt xa các quan niệm về vật chất trước đó, giúp chúng ta phản bác lại các quan điểm siêu hình, bất khả tri và duy tâm chủ quan.
Cũng với cách thức như vậy, Lênin đã thiết lập phạm trù giai cấp. Theo ông, giai cấp là những tập đoàn người to lớn, khác nhau về bốn điểm cơ bản sau: 1) Địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định; 2) Quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất; 3) Vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và quản lý sản xuất; 4) Phương thức thu nhập của cải do lao động xã hội làm ra(8). Bằng phương pháp trừu tượng và khái quát hoá, Lênin đã giúp chúng ta nắm bắt được những đặc tính chung, cơ bản nhất; những dấu hiệu phổ biến, ổn định của giai cấp, dù đó là các giai cấp trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến hay trong xã hội tư bản hiện đại.
Ghi chú:
(1) V.I. Lênin. Toàn tập, t. 29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 179.
(2) Xem. V.I. Lênin. Sđd., t. 18, tr. 50, 56, 138.
(3) V.I.Lênin. Sđd., t. 29, tr. 192 - 193.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 59.
(5) V.I.Lênin. Toàn tập, t.29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 385.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.183.
(7) V.I.Lênin. Toàn tập, t.18. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr. 151.