- 1. Khái niệm phân tầng xã hội
- 2. Các dạng phân tầng
- 3. Các tháp phân tầng
- 4. Nguyên nhân của sự phân tầng xã hội
- 5. Phân tầng xã hội ở Việt Nam qua các thời kỳ
- 6. Câu hỏi thường gặp về phân tầng xã hội
- 6.1 Đặc điểm của phân tầng xã hội?
- 6.2 Các phương pháp nghiên cứu phân tầng xã hội?
- 6.3 Có mấy kiểu chủ yếu về hệ thống phân tầng xã hội?
1. Khái niệm phân tầng xã hội
Để hiểu rõ sự phân tầng xã hội cần tìm hiểu khái niệm tầng xã hội:
Tầng xã hội là tổng thể của mọi cá nhân trong cùng một hoàn cảnh xã hội. Họ giống nhau hoặc bằng nhau về tài sản hay thu nhập, về trình độ học vấn hay văn hóa, về địa vị vai trò hay uy tín xã hội, về khả năng thăng tiến trong thang bậc xã hội.
Trên cơ sở khái niệm tầng xã hội có khái niệm phân tầng xã hội. Đó là sự phân chia, sự sắp xếp và hình thành cấu trúc các tầng xã hội (bao gồm cả sự phân loại, xếp hạng). Đó là sự khác nhau về địa vị kinh tế hay tài sản, về địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín cũng như sự khác nhau về trình độ học vấn, loại và trình độ nghề nghiệp, phong cách sinh hoạt, cách ăn mặc, kiểu nhà ở, nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, trình độ tiêu dùng...
Phân tầng xã hội là một “cấu trúc tầng bậc” của xã hội. Cấu trúc “tầng bậc” là một thuộc tính phổ biến của mọi khách thể vật chất, tự nhiên, xã hội và tư duy. Bất kỳ một khác thể vật chất nào cũng có “cấu trúc tầng bậc”.
Phân tầng xã hội không phải là một cấu trúc cố định, nhất thành, bất biến mà luôn vận động, biến đổi. Khoảng cách giữa các tầng có thế dãn ra hoặc thu hẹp lại tùy thuộc vào những tác động kinh tế xã hội, chính sách xã hội, thể chế chính trị, đặc điểm cộng đồng, tính cơ động xã hội của các cá nhân, nhóm xã hội. Do vậy, khái niệm phân tầng xã hội có thể hiểu theo ba đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, trong các xã hội, cơ cấu xã hội luôn có sự phân hóa thành những tầng lóp thang bậc khác nhau (theo cấu trúc dọc).
Thứ hai, phân tầng xã hội luôn gắn với bất bình đẳng xã hội và sự phân công lao động xã hội.
Thứ ba, có sự di chuyển, di động giữa các tầng ( cơ động dọc) hoặc trong nội bộ từng tầng (cơ động ngang) và các loại cơ động khác.
Phân tầng xã hội không phải là một cấu trúc cố định, nhất thành, bất biến mà luôn vận động, biến đổi. Khoảng cách giữa các tầng có thể dãn ra hoặc thu hẹp lại tùy thuộc vào những tác động kinh tế xã hội, chính sách xã hội, thể chế chính trị, đặc điểm cộng đồng, tính cơ động xã hội của các cá nhân, nhóm xã hội.
Phân tầng xã hội bao hàm cả thuộc tính “tĩnh” và “động”, nói một cách khác, nó không phải là một cấu trúc nhất thành bất biến mà là một thể thống nhất biện chứng giữa trạng thái tĩnh và trạng thái động. Phân tầng xã hội luôn vận động, biến đổi theo những xu hướng nhất định, tùy thuộc vào sự vận động nội tại bên trong cũng như sự tác động của các yếu tố bên ngoài và sự tương tác của các chủ thể bên trong và yếu tố bên ngoài. Phân tầng xã hội không phải là một hiện tượng độc lập tuyệt đối, tồn tại bên ngoài cơ cấu xã hội mà nó là “nhát cắt bổ dọc”, cấu trúc “dọc” của cơ cấu xã hội. Chính vì vậy, cần phải gắn chặt việc nghiên cứu cơ cấu xã hội với phân tầng xã hội. Trên thực tể cơ cấu xã hội bao hàm cả cấu trúc “ngang” và cấu trúc “dọc”, một thể thống nhất “động”. Tương đối ổn định bao gồm các nhóm xã hội cơ bản (giai cấp, nghề nghiệp, nhân khẩu, lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo) đan kết vào nhau và được sắp xếp theo cả cấu trúc “ngang” và cấu trúc “dọc” tạo ra bộ khung cho sự vận động và phát triển của xã hội.
>> Xem thêm: Phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay: Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận
2. Các dạng phân tầng
Căn cứ vào phạm vi di động xã hội, có thể phân biệt hai mô hình phân tầng đóng và phân tầng mở.
- Phân tầng xã hội đóng hay phân tầng đẳng cấp, ranh giới giữa các tầng lớp rất nghiêm ngặt, chặt chẽ, con người khó có thể thay đổi được vị trí của mình. Với cấu trúc phân tầng đóng chứa đựng nguy cơ trì trệ, bảo thủ, chậm phát triển.
- Phân tầng xã hội mở hay phân tầng giai cấp có đặc trưng là ranh giới giữa các tầng lớp không quá nghiêm ngặt, các cá nhân có thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, từ tầng lớp này sang tầng lớp khác. Cấu trúc phân tầng mở phù hợp với xu thế đổi mới và cởi mở trong xã hội ngày nay.
Căn cứ vào sự phát triển xã hội có phân tầng xã hội hợp thức và phân tầng xã hội không hợp thức.
- Phân tầng xã hội hợp thức là một cấu trúc tầng bậc cao, thấp, phản ánh sự khác nhau, sự không ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về 3 dấu hiệu chủ yếu: địa vị chính trị, địa vị kinh tế, địa vị xã hội. Cấu trúc phân tầng này là hợp thức, đối lập với phân tầng không hợp thức, có nghĩa là, nó được hình thành không phải là do cách làm ăn phi pháp, thủ đoạn, xu nịnh, gian dối... Phân tầng xã hội hợp thức là một cấu trúc tầng bậc cao, thấp (trên, dưới) chủ yếu dựa vào sự khác biệt khách quan tự nhiên giữa các thành viên trong xã hội về mặt năng lực (thể chất, trí tuệ), sự khác biệt về tài, đức và sự cống hiến, đóng góp thực tế của mỗi cá nhân cho xã hội.
Người nào có tài, đức công hiến nhiều cho xã hội thì người đó càng xứng đáng đứng vào vị trí cao trong xã hội, xứng đáng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý xã hội, và đương nhiên họ cũng được xã hội kính trọng, tôn vinh và được hưởng những lợi ích vật chất cao. Người nào tài đức trung bình, cống hiến ít cho xã hội thì cũng có những vị trí trung bình và sự đánh giá tương ứng với mức đóng góp và lợi ích ở mức trung bình. Thực chất phân tầng xã hội hợp thức vận hành theo nguyên tắc “làm theo nẳng lực, hưởng theo lao động” - nguyên tắc quan trọng nhất để nhận biết và phân biệt giữa công bằng xã hội và bất bình đẳng xã hội. Phân tầng hợp thức không chỉ hiểu theo nghĩa thông thường mà nó hàm chứa ở trong đó cả sự phù hợp với đạo lý, pháp luật, phù họp với các giá trị, chuẩn mực và các quy tắc của đời sống văn hóa, xã hội. Nó không chỉ phù họp với những quy tắc, chuẩn mực của hiện tại, của cái đang diễn ra mà còn phù hợp với xu hướng vận động đi lên mang tính quy luật của xã hội.
- Phân tầng xã hội không hợp thức có nghĩa là phân tàng không dựa trên những sự khác biệt tự nhiên giữa các cá nhân, cũng không chủ yếu được tạo ra do sự khác nhau về tài, đức, sự đóng góp cổng hiến một cách thực tế của mỗi cá nhân cho xã hội. Phân tầng không hợp thức dựa vào những hành vi trái pháp luật, tham ô, tham nhũng, lừa gạt, trộm cắp, buôn bán phi pháp để trở lên giàu có, xu nịnh, chạy chọt để có địa vị cao trong xã hội, hoặc ỷ lại để rơi vào sự nghèo khổ, hèn kém.
Trong xã hội phân tầng không hợp thức thì những kẻ bất tài, vô dụng vẫn có thể chiếm vị trí cao, họ có thể chiếm đoạt được nhiều của cải, làm giàu bất chính, hưởng thụ nhiều hơn những gì đáng được hưởng và hơn những người khác, có quyền lực chi phối người khác. Trong khi đó nhiều người có tài, đức lại bị vùi dập, bị thiệt thòi, chịu cành ấm ức, bất công, bị đối xử, phân biệt, thậm chí bị ngược đã bởi những kẻ bất tài luôn sợ người có tài nên hay tìm những thủ đoạn hèn hạ để đối phó, làm thui chột những tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Như vậy, phân tầng xã hội không hợp thức vừa là biểu hiện của sự bất công bang xã hội vừa là biểu hiện của bất bình đẳng xã hội, do đó nó là tiêu cực làm kìm hãm sự phát triển của xã hội. Phân tầng xã hội không hợp thức là xiềng xích trói buộc những tiềm năng sáng tạo của các cá nhân, làm thui chột những năng lực thể chất và tinh thần của những người lao động chân chính, là một trong những nguyên nhân của những bất bình đẳng, xung đột xã hội, từ đó dẫn tới mâu thuẫn, khủng hoàng, bất ổn xã hội. Với phân tầng xã hội không hợp thức như vậy, cần phải phê phán trước công luận, phải bị trừng phạt trước pháp luật. Đối với những người lười biếng cần phải giáo dục, thậm chí cưỡng bức họ lao động một cách nghiêm khắc.
Đối vói những người nghèo khổ, yếu thế bị ro, tai nạn, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm lao động... chúng ta cần phải cưu mang, giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ có thể vưon lên thoát nghèo bằng việc hỗ trợ vay vốn, tư liệu sản xuất, miễn giảm học phí,... để xã hội phát ưiển một cách lành mạnh.
>> Xem thêm: Khái niệm phân tầng xã hội? Nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng xã hội?
3. Các tháp phân tầng
Trong lịch sử xã hội có rất nhiều các loại tháp phần tầng khác nhau như:
- Tháp phân tầng xã hội hình chóp nón
Đây là loại tháp phân tầng phản ánh những xã hội có sự bất bình đẳng ở mức độ cao.
- Tháp phân tầng xã hội hình thoi (quả trám)
Trong tháp phân tầng loại này, nhóm xã hội giàu và nghèo đều chiếm tỷ lê nhỏ và nằm ở hai đầu của hình quả trám. Nhóm xã hội trung lưu chiếm đa số nằm ở giữa.
- Tháp phân tầng xã hội hình quả trứng
Trong những xã hội có tháp phân tầng kiểu này, tầng lớp trung lưu chiếm đa số nằm ở phần giữa hình quả trứng, bất bình đẳng xã hội vẫn còn tồn tại ờ mức độ cao.
- Tháp phân tầng xã hội hình giọt nước
Trong tháp phân tầng này, khoảng cách giàu nghèo vẫn còn song không đáng kể. Tuyệt đại thành viên trong xã hội thuộc nhóm xã hội có mức sống trung bình và khá giả.
- Tháp phân tầng hình đĩa bay
Trong loại tháp phân tầng xã hội này, tầng lớp trung lưu, khá giả chiếm tuyệt đại bộ phận trong xã hội. Tuy nhiên, trong xã hội vẫn có sự khác biệt về mức sống nhưng khoảng cách của sự khác biệt đó là rất nhỏ.
4. Nguyên nhân của sự phân tầng xã hội
Thứ nhất: Bắt nguồn từ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hình thành các giai cấp và xung đột giai cấp đã làm xuất hiện và đẩy nhanh quá trình phân tầng xã hội;
Thứ hai, quá trình phần công lao động xã hội đưa đến sự phân tầng xã hội một cách tự nhiên; còn bản thân sự phân công lao động xã hội không phải là bất bình đẳng xã hội mà nó là cơ sở tạo nên các dạng hoạt động xã hội không được coi trọng như nhau.
Như vậy, phân tầng xã hội là một hiện tượng kinh tế - xã hội diễn ra thường xuyên, liên tục cùng với quá trình biến đổi và phát triển của lịch sử xã hội loài người. Sự phân tầng xã hội đã tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo giữa những người có địa vị xã hội cao, nhiều lợi thế với những người có địa vị thấp và bất lợi trong sự thăng tiến, sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn dẫn đến sự bất bình đẳng trong các giai tầng. Vì vậy đòi hỏi xã hội học cần phải nghiên cứu và có những biện pháp hữu hiệu để tổ chức và quản lý xã hội.
5. Phân tầng xã hội ở Việt Nam qua các thời kỳ
Phân tầng xã hội đã từng xuất hiện và tồn tại lâu dài ở nước ta. Tuy nhiên, quy mô, tính chất và mức độ của nó là không giống nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.
Trong xã hội phong kiến trước đây, trên nền tảng của xã hội nông nghiệp, lao động thủ công, năng suất lao động thấp, tuy có sự hiện diện của phân tầng xã hội về phương diện kinh tế song mức độ chưa cao. Ngoài một số chủ ruộng đất và các bậc vua chúa, quan lại cò nhiều tài sản, còn tuyệt đại đa số những người nông dân có cuộc sống tương đối ngang bằng nhau. Trong những xã hội cổ truyền, sự phân tầng về tuổi tác và nghề nghiệp nổi lên rõ rệt hơn, duy trì lâu bền và phổ biến hơn.
Từ sau năm 1954 đến trước thời kỳ đổi mới (1986), miền Bắc và sau đó là cả nước (sau năm 1975) chúng ta đã nhanh chóng xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất trên phạm vi toàn xã hội. Mặc dù nhận thức về chủ nghĩa xã hội, quá trình xây dựng xã hội còn mắc nhiều sai lầm, yếu kém, nhưng đã xây dựng được một xã hội có mặt bằng khá đồng đều. Song chế độ quan liêu bao cấp mà đặc trưng chủ yếu là “chủ nghĩa bình quân” chia đều sự nghèo khổ đã vừa cào bằng xã hội vừa tạo ra những khía cạnh nhất định của sự mất bình đẳng.
Chế độ hành chính quan liêu bao cấp tồn tại khá lâu dài đã làm cho xã hội trở nên trì trệ, một bộ phận lợi dụng chức quyền và những sơ hở của Nhà nước ngấm ngầm tích lũy làm giàu cho bản thân tạo ra khoảng cách không nhỏ so với tuyệt đại đa số dân cư còn lại khác.
Từ khi nước ta chuyển sang thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân tầng xã hội bộc lộ ngày một rõ nét, sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Theo kết quả các cuộc khảo sát mức sống dân cư được tiến hành trên phạm vi cả nước thì khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất (hộ giàu nhất) với 20% số hộ có thu nhập thấp nhất (hộ nghèo nhất) có xu hướng tăng lên: năm 1995 là 7,0 lần; năm 1996 là 7,3 lần; năm 1999 là 7,6 lần; năm 2002 là 8,1 lần và năm 2004 là 8,34 lần, năm 2006 là 8,37 lần, năm 2008 là 8,93 lần, năm 2010 là 9,23 lần,'năm 2012 là 9,35 lần.
Phân tầng xã hội ở nước ta vẫn đang tiếp tục diễn ra khá sôi động. Một mặt, phân tầng xã hội có vai trò tích cực là kích thích mạnh mẽ sự chuyển đổi kinh tế, làm tăng tính cơ động xã hội và sự phân công lại lao động xã hội một cách hợp lý. Mặt khác, phân tầng xã hội cũng bộc lộ rõ những mặt tiêu cực, đó là sự xuất hiện một bộ phận làm giàu phi pháp: tham nhũng, buôn gian, bán lậu, đầu cơ, lừa đảo... Do vậy, để đánh giá vê thực trạng và xu hướng của sự phân tầng xã hội hiện nay ở nước ta là tích cực hay tiêu cực, và nó có liên quan như thế nào với các khía cạnh phát triển xã hội cũng như những nhân tố kìm hãm, những tệ nạn và tiêu cực xã hội. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng nên cần phải đầu tư nghiên cứu một cách tích cực và sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn từng giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội để đánh giá chính xác về các giai tầng, từ đó giúp Đảng và Nhà nước đưa ra những chính sách xã hội cho phù hợp đối với từng giai tầng nhằm tạo điều kiện cho xã hội phát triển năng động, công bằng, dân chủ, văn minh.
6. Câu hỏi thường gặp về phân tầng xã hội
6.1 Đặc điểm của phân tầng xã hội?
- Phân tầng xã hội có tính phổ quát trên phạm vi toàn cầu;
- Phân tầng xã hội tồn tại dai dẳng theo thời gian năm tháng;
- Phân tầng xã hội tồn tại trong tất cả các nhóm dân cư, các giai cấp, các tầng lớp xã hội;
- Phân tầng xã hội được duy trì một cách bền vững do điều kiện vật chất và do thể che chính trị.
- Phân tầng mang tính khách quan, lịch sử cụ thể.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu phân tầng xã hội?
- Phương pháp đồng nhất giai cấp: Là phương pháp để mọi người, mọi nhóm xã hội, tự mô tả phân tầng xã hội như thế nào
- Phương pháp chủ quan : Là phương pháp để mọi người tự xếp mình vào một tầng nào đó trong xã hội
- Phương pháp điều tra: Là phương pháp thông qua các tiêu chí nghiên cứu để xác định tầng xã hội: thu nhập, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt văn hóa, tư liệu sản xuất,...
6.3 Có mấy kiểu chủ yếu về hệ thống phân tầng xã hội?
- Nô lệ
- Đẳng cấp
- Địa chủ
- Các giai cấp xã hội.
Luật Minh Khuê (tổng hợp)