1. Dàn ý phân tích ba khổ thơ cuối bài thơ Tiểu đội xe không kính
1.1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Phạm Tiến Duật: phong cách sáng tác, tác phẩm tiêu biểu
- "Bài thơ về tiểu đội xe không kính": hoàn cảnh sáng tác, nội dung bài thơ
-Giới thiệu về ba khổ thơ cuối của bài thơ:
- Trích dẫn ba khổ thơ
- Nêu qua nội dung của ba khổ thơ
1.2. Thân bài
a. Khổ 5: Vẻ đẹp của người lính được thể hiện qua cái nhìn lạc quan, yêu đời trước hiện thực cuộc chiến đấu còn nhiều gian khổ.
- "Những chiếc xe...kính vỡ rồi"
+ Nghệ thuật: Những câu thơ ghi nhận một cách chân thực khắc nghiệt mà các anh phải chịu đựng khi bom đạn kẻ thù đã giật, rung, tàn phá tấm kín chắn xe. Hơi thở nhẹ nhàng như lời nói chuyện, mà là chuyện vui, chuyện bình thường vẫn xảy ra với các anh, không hề khiến các anh phải bận tâm. Nhịp thơ mạnh, dứt khoát. Các cụm từ "chưa cần rửa", "chưa cần thay" không chỉ đem đến cảm giác về sức trẻ dòi dào mà còn thể hiện một điều đáng nể phục của người lính, đối với các anh, nhiệm vụ là số một.
b. Khổ 6: Tình đồng chí, đồng đội
- Bếp Hoàng Cầm....trời xanh thêm"
- Nghệ thuật: hình ảnh giàu sức gợi, nhịp thơ 2/2/3
- Nội dung: Niềm vui sum họp được mở ra sau chặng đường chạy dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù.
c. Khổ cuối: Tình yêu quên hương, đất nước
- "Không có kính.....một trái tim"
- Nghệ thuật: điệp từ "không"
- Nội dung: Vẻ đẹp của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ: trẻ rung, lạc quan, dù hiểm nguy vẫn chắc tay lái đương đầu ra tiền tuyến.
*Liên hệ với lí tưởng sống của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay
- Giải thích lí tưởng sống là gì?
- Chứng minh: những tấm gương nghị lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh
- Bình luận:
+ Cuộc sống thật vô bổ nếu không có lí tưởng sống
+ Lí tưởng sống sẽ là động lực giúp ta vươn lên trong cuộc sống.
- Liên hệ bản thân
1.3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của bài thơ
- Tình cảm dành cho bài thơ
2. Một số mẫu phân tích ba khổ thơ cuối bài thơ Tiểu đội xe không kính
2.1. Mẫu 1
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go và oanh liệt của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Trong mưa bon bão đạn trên tuyến đường Trường Sơn, có rất nhiều những thứ không thể trở lên có thể bởi bộ đội ta. Một trong những huyền thoại của thế kỉ XX là hình ảnh những đoàn xe không có kính vẫn băng băng trên đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Xúc độn trước hiện thực đó, Phạm Tiến Duật đã cho ra đời sáng tác "Bài thơ về tiểu đội xe không kính". Trong bài ca người lính độc đáo này, tác giả đã bộc lộ, cảm xúc, suy nghĩ của mình về những người lính lái xe, về dân tộc và đất nước:
" Những chiếc xe từ trong bom rơi
.....
Chỉ cần trong xe có một trái tim".
Tìm hiểu về bài thơ đặc biệt là ba đoạn thơ trên ta cảm nhận được cái hay, cái đẹp, kỳ diệu của thơ ca Việt Nam trong thời chiến.
Mở đầu bài thơ tác giả viết:
" Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi".
Người chiến sĩ đang nói về đồng đội và cũng đang tự nói về chính mình. "Từ trong bom rơi" có nghĩa là từ trong ác liệt, từ trong cái chết trở về. Vượt qua tuyến lửa, bom rơi, những chiếc xe bỗng tụ nhau thành tiểu đội thật thú vị. Tiểu đội của những chiễ xe không kính. Những con người đã qua thử thách trên con đường đi tới bỗng trở thành bạn bè và cái "bắt tay qua cửa kính vỡ rồi" mới thật tự hào, sảng khoái biết bao. Hình như chính ô cửa ấy khiến họ như gần nhau thêm, khiến cái bắt tay của họ thêm chặt hơn và tình đồng đội lại càng thắm thiết. Cái bắt tay qua ô cửa kính vỡ như là sự chia sẻ, cảm thông lẫn nhau của người lính Trường Sơn. Đó là sự vui mừng, chúc mừng nhau hoàn thành nhiệm vụ, là niềm tin, niềm tự hào của người chiến thắng.
Đoàn xe không kính ngày càng đi xa. Càng đi sâu vào chiến truòng, khổ thơ tiếp theo giúp ta hình dung về những sinh hoạt đời thường của họ:
"Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
....
Lại đi, lại đi, trời xanh thêm"
Những sinh hoạt của người lái xe được tái hiện giản dị, chất phác "bếp hoàng cầm" và "võng mắc chông chênh". Cái gì cũng tạm bợ, cơ động nhưng cách nhìn của những người lính ấy thật tươi tắn, lạc quan: là gia đình đấy. Chất thơ nghịch ngợm đầy ý vị đã mở ra những hình ảnh chân chất đời lính đã ấm lên tình đồng ngũ, nghĩa anh em. Sức sống thơ cũng chính là ở đâu và câu thơ đó đã cất cánh bay cao: "lại đi, lại đi, trời xanh thêm". Hai chữ "lại đi" được lặp lại biểu hiện đoàn xe không ngững tiến tới, không một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. "Trời xanh thêm" là một hình ảnh đầy chất thơ và giàu ý nghĩa. Trời xanh là trời đẹp, bầu trời yên tĩnh, không gian thoáng đãng.
Câu thơ gợi mở biết bao tâm hồn vẫn sôi nổi lên đường, rộng mở những tương lai, những ngày vẫn xanh thên niềm tin chiến thắng. Khổ thơ cuối cùng vẫn là giọng thơ mộc mạc, gần gũi với lời nói bình thường. Vậy mà nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ, đầy cảm hứng và suy tưởng bay bổng, sâu sắc thể hiện bức chân dung tuyệt vời của người chiến sĩ vận tại Trường Sơn:
" Không có kính rồi xe không có đèn
....
Chỉ cần trong xe có một trái tim"
Bốn câu thơ dựng lại hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ, thú vị. Hai câu đầu dồn dập, những mất mát, khó khăn do quân thù gieo xuống: không kính, không đèn, không mui, thùng xe có nước. Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần những thử thách khốc liệt. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, êm ru. Hình ảnh đậm nét, đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hướng về miền nam ruột thịt. Vì một cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước, toả sáng chói cả đoạn thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim". Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe đó là "trái tim" gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này.
Tình yêu tổ quốc, tình thương đồng bào, đồng chí ở miền Nam đau khổ đã khích lệ, động viện người chiến sĩ vững tay lái xe về tới đích? Và ẩn sau ý nghĩa "trái tim cầm lái", câu thơ còn muốn hướng người đọc về một chân lý của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ...mà là có người, con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường, dũng cảm, niềm lạc quan và mọi niềm tin vững chắc. Có thể nói,cả bài thơ hay nhất là câu thơ cuối cùng. Nó là "con mắt của thơ" bật sáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp hình tượng nhân vật trong thơ. Bài thơ được khép lại mà âm hưởng của nó như vẫn vang xa chính là nhờ câu thơ ấy.
Tóm lại, những khổ thơ trên đã phác hoạ những hình tượng đẹp đẽ về người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm cứu nước, những câu thơ giản dị, hình ảnh sinh động cụ thể, sự đối lập ở từng khổ thơ, tác giả đã để lại những ấn tượng đẹp về tiểu đội xe không kính.
2.2. Mẫu 2
Phạm Tiến Duật là nhà thơ thuộc thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các tác phẩm của ông đa phần đều viết về hình tượng của người lính và những người con gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn máu lửa. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của ông kính là một trong những tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc, đặc biệt là ba khổ cuối của bài thơ.
Tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969 nằm trong tập "Vầng trăng quầng lửa" của ông. Với giọng điệu sôi nổi, tươi trẻ cùng hình tượng độc đáo, bài thơ đã khắc hoạ sống động hình ảnh của những người lính lái xe trên đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống mỹ. Họ là những thanh niên trẻ tràn trề nhựa sống, luôn hiên ngang, lạc quan, dũng cảm, bất chấp mọi khó khăn, hướng một lòng về miền Nam yêu quý. Ba khổ thơ cuối của bài thơ đã khắc hoạ rất thành công hình ảnh của người lính lái xe với tình đồng chí, đồng đội thắm thiết cùng tin thần, ý chí quyết tâm vì miền Nam ruột thịt.
Sau những chặng đường đầy gian khổ với những trận mưa bom, bão đạn, bụi đất, mưa tuôn "xối như ngoài trời", những người lính lái xe được trở về trong phút giây bình yên hiếm hoi nơi chiến trường khói lửa. Trong phút giay đó, tinh thần đồng đội của họ hiện lên rạng ngời hơn bao giờ hết:
" Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây hop thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm"
Hình ảnh "những chiếc xe từ trong bom rơi" đã gợi lên cho chúng ta thấy không chỉ là sự khốc liệt của chiến tranh mà còn là sự gan góc, kiên cường của những người lính lái xe. Trải qua quãng đường dài với những 'bom giật bom rung", những chiếc xe của những người lính lái xe giờ đây quây quần bên nhau thành một "tiểu đội". Những cái "bắt tay" vội vã "qua cửa kính vỡ rồi" đã thể hiện được tình đồng đội, đồng chí thắm thiết, gần gũi. Cái bắt tay khong chỉ là lời chào hỏi mà còn là sự sẻ chia, lời động viên lẫn nhau của những người lính.
Không chỉ chia sẻ những khó khăn trong công việc, người lính lái xe còn cùng nhau những khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt:
"Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đữa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm"
Bếp Hoàng Cầm là loại bếp dã chiến được sử dụng phổ biến trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bếp Hoàng Cầm xuất hiện trong khổ thơ không chỉ gợi liên tưởng đến những giờ phút giải lao hiếm hoi, những bữa ăn chớp nhoáng của người lính lái xe mà còn là "phương tiện" gắn kết tình cảm đồng đội, đồng chí giữa những người lính. Họ quây quần bên nhau, cùng chung bát đũa, thân thiết giống như người thân trong gia đình. Chính tình cảm chân thành của tình đồng chí, đồng đội, tinh thần yêu nước đã trở thành nguồn động lực, sức mạnh to lớn để những người lính vượt qua những khó khăn của bom đạn, chiến thắng được kẻ thù.
Sau những giờ nghỉ ngơi ít ỏi, cùng giấc ngủ chớp nhoáng trên những chiếc võng "mắc chông chênh trên đường xe chạy", những người lính lại tiếp tục cuộc hành trình chi viện cho miền Nam ruột thịt:
"Lại đi, lại đi trời xanh thêm"
"Lại đi, lại đi" gợi sự liên tưởng đến những chiếc xe không biết mệt mỏi, xuyên rừng, xuyên núi, vượt qua mưa bom bão đạn để về miền Nam, cùng với đó là tinh thần mạnh mẽ, kiên cường, không chịu khuất phục trước hoàn cảnh của những người lính lái xe. Hình ảnh "trời xanh" là một nét vẽ, một hình ảnh ẩn dụ đẹp của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bầu trời xanh ấy không chỉ tượng trưng cho sự sống mà còn là màu của tự do, hoà bình và độc lập. Những người lính lái xe giành hết mọi sức lực để tiến về phía trước, chiến đấu để giành lại bầu "trời xanh" hoà bình của dân tộc.
Hai khổ thơ 5 và 6 đã cho chúng ta thấy được tình cảm đồng chí, đồng đội hết sức gắn bó, chân thành của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Họ chỉ là những con người xa lạ, gặp nhau, bắt tay nhau qua ô cửa kính xe đã vỡ điều đó càng làm nổi bật thêm tình cảm thiêng liêng không gì so sánh được.
Trong khổ thơ cuối cùng, hình ảnh những chiếc xe không kính lại một lần nữa hiện ra. Nếu như ở khổ thơ đầu tiên, tác giả chỉ nêu ra hình ảnh những chiếc xe không kính vì "bom giật bom rung", thì ở khổ cuối sự thiếu thốn lại càng hiện ra:
"Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim"
Những chiếc xe vốn đã méo mó, thiếu thốn nay lại càng trở nên biến dạng hơn dưới sức huỷ diệt của kẻ thù. Xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe có xước tất cả gợi ra một cuộc chiến ác liệt, thảm khốc, qua đó làm nổi bật tinh thần hiên ngang, dũng cảm của người lính lái xe. Dẫu xe có bị tàn phá biến dạng, hoạt động lái xe cũng gặp muôn vàn khó khăn nhữnh những người lính vẫn giữ trong mình một niềm tin "Chỉ cần trong xe có một trái tim". Hai từ "chỉ cần" ở đầu câu thơ cho thấy một thái độ ngang tàn, hiên ngang của những người lính, đối với người lính chỉ cần trong trái tim họ có một niềm tin nhiệt huyết thì nó vẫn sẽ tiến lên, hướng về miền nam thân yêu. nhịp thơ dồn dập, gấp gáp chứa đựng cự sôi sục, ý chí của nhà thơ cũng như người lính. Có lẽ đây là câu thơ hay nhất trong cả bài thơ. Nó làm nổi bật lên hình tượng, ý chí và lòng quyết tâm chiến đấu của những người lính lái xe Trường Sơn năm ấy.
Với chất liệu hiện thực cùng giọng thơ tươi vui, tự nhiên, khoẻ khoắn, bài thơ đã khắc hoạ thành công hình ảnh người lính lái xe trẻ khoẻ, tràn đầy nhiệt huyết, lạc quan, yêu đời. Nhịp thơ biến hoá lin hoạt, lúc nhanh lúc chậm, khi dồn dập khi chậm rãi yên bình phù hợp với nhịp hành quân của đoàn xe không kính.
2.3. Mẫu 3
Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt điển hình trong lớp thi sĩ trẻ trong những năm tháng kháng chiến chông Mỹ cứu nước. Những tác phẩm của ông đa phần viết về hình tượng người lính và những cô gái thanh niên xung phong tren trục đường Trường Sơn. Tác phẩm "bài thơ về tiểu đội xe không kính" được sáng tác tháng 5/1969 nằm trong chùm thơ Phạm Tiến Đuật được giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ và được đưa vào tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" của tác giả. Tiêu biểu nhất bài thơ chính là ba khổ cuối cùng đã khắc hạo hiện thực tàn khốc của chiến tranh, qua đó làm nổi bật hình tượng người lính với bao phẩm chất tốt đẹp.
Sau những chặng đường đầy bom đạn, gió bụi, mưa tuôn, người lính lái xe vẫn có những khoảnh khắc yên bình:
"Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi".
Hình ảnh "những chiếc xe từ trong bom rơi" gợi nên hình ảnh những chiếc xe gan dạ, những chiếc xe vượt qua thách thức. Vượt qua những đoạn đường "bom giật, bom rung", những chiếc xe lại quây quần với nhau thành "tiểu đội". Suốt dọc đường vào Nam, tất cả những người lính lái xe gặp nhau dù chỉ rong khoảnh khắc nhưng đều là bè bạn, là những người chung chí hướng.
Khoảnh khắc gặp nhau thật thú vị qua cái "bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi" đó là một cử chỉ gần gũi, có biết bao điều muốn nói trong cái băt tay ấy, đó vừa là thú vui của họ khi vừa thoát khỏi thần chết, cổ vũ nhau dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn phấn đấu cầm chắc tay lái để đưa xe về tới đích. Chỉ một cái bắt tay qua cửa kính vỡ rồi cũng đủ để họ san sẻ cho nhau, đồng cảm với nhau cùng thực hiện một nhiệm vụ thiêng liêng cao cả.
Người lính trên đường ra trận còn có chung những điểm tựa và tình cảm, tâm hồn, sinh hoạt.
" Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đữa tức là gia đình ấy
Võng mắc chênh vênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi, rời xanh thêm".
Bếp Hoàng Cầm là hình ảnh quen thuộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là dấu hiệu của sự đoàn tụ, hội ngộ sau chặng đường tiến quân nặng nhọc. Những ngọn lửa ấm áp như kết nối tấm lòng của người chiến sĩ với nhau. Tất cả là một gia đình êm ấm, ngập tràn tình yêu thương, Phạm Tiến Duật đưa ra một định nghĩa gia đình thật lạ, thật giản đơn "chung bát đũa" là tiêu chuẩn là một gia đình. Câu thơ toát lên tình đời, tình người gắn bó keo sơn. Họ có chung bát đũa, chung mâm cơm, chung bếp lửa, chung ánh sao trời,...Những tình cảm ấy chỉ có những người lính mơi được thử. Câu thơ đẹp về tình cảm, cách nhìn, cách nghĩ của người chiến sĩ. Chính tình đồng đội đã biến thành sức mạnh vô địch giúp người lính trụ vững nơi chiến trận bom đạn, giành thắng lợi trước quân địch.
Sau một bữa cơm sum vầy, một vài câu chuyện nhỏ, những người lính trẻ lại tiếp tục lên đường "lại đi, lại đi trời xanh thêm". Hình ảnh "trời xanh" là một nét vẽ rất tài giỏi mang ý nghĩa biểu trưng, nó không chỉ tượng trưng cho sự sống mà nó còn tượng trưng cho tự do, hoà bình, ngập tràn hi vọng về một chiến thắng. Họ chiến đấu giành lại bầu trời. Chính vì vậy dù gian lao nguy hiểm tới đâu, họ cũng vẫn phấn đấu lái xe tiến về phía trước. Họ không coi đây là một mệnh lệnh khô khan , một nhiệm vụ thuần tuý mà là ý thức, ý chí, tình cảm của người lính luôn hướng về miền Nam ruột thịt.
Khổ thơ kết thúc là hình ảnh những chiếc xe không kính, làm nổi bật vẻ đẹp của người lính lái xe:
"Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim".
Những chiếc xe bị biến dạng hoàn toàn, rất nhiều những khó khăn, thử thách đối với người lính lái xe. Nhưng những thiếu thốn đó không làm những người lính nhụt chí mà càng tăng tinh thần chiến đấu, từng đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm tiến về phía trước. Nguyên nhân gì khiến những chiếc xe ấy vẫn băng băng chạy, nhà thơ lí giải "Chỉ cần trong xe có một trái tim". Câu thơ dồn dập vững chắc như nhịp chạy của những chiếc xe không kính. Từ hàng loạt những cái không có ở trên, thi sĩ khẳng định một cái có ấy là một trái tim. Đây là là một hình ảnh hoán dụ nghệ thuật tu từ, trái tim của những người lính lái xe chua xót trước cảnh quần chúng miền Nam sống trong khói bom thuốc súng. Trái tim ấy dạy dào tình yêu nước như máu thịt, mong ước đất nước được độc lập. Để mong ước này biến thành hiện thực, chỉ có một cách suy nhất, vũng vàng tay đua, cầm chắc tay lái.
Đằng sau những ý nghĩa đó, câu thơ còn muốn hướng chúng ta tới chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định thắng lợi không còn là vũ khí mà chính là từ những con người giàu ý chí, người hùng. Câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ, nó chính là nhãn tự, làm bật lên chủ đề rạng ngời hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ.
Với giọng thơ ngang tàn, khẩu khí trẻ trung, nhịp thơ cởi mở, lúc thì như lời thoại, lúc như văn xuôi, thích hợp với nhịp tiến quân của đoàn xe. Qua đây ta thấy được rằng "bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật là một trong những tác phẩm điểm hình viết về tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hung của dân tộc.
2.4. Mẫu 4
Từ mái trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động trên con đường chiến lược Trường Sơn những năm tháng đánh Mỹ ác liệt nhất. Lửa khói chiến trường, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam, những cô gái thanh niên xung phong, những chiến sĩ lái xe dung cảm,... là những hình ảnh thường xuất hiện trong thơ ca Phạm Tiến Duật. Tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" tiêu biểu cho hồn thơ Phạm Tiến Duật trong tập Vầng trăng - Quầng lửa những bài ca chiến trận thấm đẫm màu sắc lãn mạn. Đây là đoạn cuối bài thơ ghi lại cảnh trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính, ca ngợi tình đồng đội và lý tưởng chiến đấu cao cả của những chiến sĩ lái xe trên con đường mòn Hồ Chí Minh:
....Những chiếc xe từ trong bom rơi
.....
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Sau những tháng ngày chiến dịch chở vũ khí lương thực chi viện cho chiến trường, vượt qua hàng ngàn cây số trong mưa bom bão đạn, tiểu đội xe không kính "đã về đây họp thành tiểu đội". Một cái bắt tay thắm tình bạn bè, đồng chí. Cũng là những cái bắt tay của người lính, nhưng mỗi thời lại khác, trong tác phẩm Đồng chí của Chính Hữu viết:
Miệng cười buốt giá
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Tình thương yêu đồng chí đồng đội là bản chất, sức mạnh của người lính. Từ cái 'nắm lấy bàn tay" đến cái "bắt tay qua cửa kính vỡ rồi" là cả một quá trình trưởng thành.
Chỉ bằng những chi tiết "bếp Hoàng Cầm", "chung bát đũa", "võng mắc chônh chênh" đã tái hiện lại những cuộc trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính cho thấy đời lính vốn dản dị nhưng rất sang trọng. Giữa chiến trường đầy bom đạn họ vẫn lạc quan "Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời" thế nhưng với sự lạc quan của họ, đã trở thành một gia đình chan chứa tình thương.
Hai từ "nghĩa là" vốn là từ dùng để nối các từ, những dưới ngòi bút của những nhà thơ tài năng thì nó trở lên duyên dáng, uyển chuyển, không còn khô khan. Với Phạm Tiến Duật, tình đồng đội cũng chính là tình anh em ruột thịt, vô cùng thân thiết.
"Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy"
Sau một bữa cơm thân mật, một vài câu chuyện nhỏ, họ lại tiếp tục lên đường theo tiếng gọi của tiền tuyến:
"Lại đi, lại đi trời xanh thêm"
Điệp ngữ "lạid di" dễn tả nhịp bước hành quân, những cung đường tiến quân lên phía trước của tiểu đội xe không kính. Hình ảnh "trời xanh thêm" là một nét vẽ tài hoa mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc: lạc quan, yêu đời chan chứa hi vọng, đó là hi vọng chiến công đang đón chờ. Đây là một đoạn thơ thể hiện sinh hoạt vật chất và tinh thần người lính thời đánh Mỹ rấ độc đáo.
Khổ cuối bài thơ nói lên suy nghĩ của tác giả về tiểu đội xe không kính. Những chiếc xe đầy thương tích, không kính, không đèn nhưng mang tầm vóc của những anh hùng vô danh. Trái tim trong thơ Phạm Tiến duật là một hình ảnh hoán dụ đó chính là trái tim rực lửa, sẵn sàng hy sinh, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ Quốc. Quyết tâm đó không có gì của quân thù có thể lay chuyển được.
Đoạn thơ trên đây là mọt đoạn thơ hay, thể hiện cách sống, cách nghĩ của những người lính trẻ lạc quan, yêu đời. Tình đồng đội, tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam của người lính toả sáng vần thơ. Ngôn từ, hình ảnh đều mang chất lính, thể hiện một hồn thơ trẻ trung phơi phới, tài hoa. Đoạn thơ trên là một khúc tráng ca của Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
2.5. Mẫu 5
Trong cuộc kháng chiến chông Mỹ của dân tộc ta, những ky tích mà chúng ta làm được trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại đã là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận đối với những thi sĩ, trong đó hình ảnh người lính lái xe trở lên nổi bật nhất. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một trong những bài thơ hay viết về những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.
Ba khổ thơ cuối chính là đỉnh cao của mạch cảm xúc và tứ thơ được nảy nở, để lại ấn tượng trong lòng người đọc về một cuộc chiến ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn và phẩm chất cao đẹp của người lính lái xe.
Từ những chiếc xe không kính trên tuyến đường Trường Sơn, ta thấy được tinh thần ung dung, bình tĩnh, hiên ngang, dũng cảm của người lính lái xe. Ở ba khổ thơ cuối, chân dung, tâm hồn của người lính lái xe được gợi ra từ hình ảnh những chiếc xe không kính.
" Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi"
Từ trong khói lửa, ác liệt của chiến tranh, những người lính đã hop thành tiểu đội, thành đồng chí, thành bè bạn. Với lời thơ tự nhiên đầy cảm xúc, từ ngữ giản dị, sâu sắc, khổ thơ đã khẳng định tình đồng đội được nảy sinh và được hình thành khi cùng trải qua chiến tranh ác liệt. Trong bom đạn hiểm nguy, những chiếc xe không kính vừa thoát khỏi cái chết giò họ họp thành đội ngũ anh hùng, họ là những con người từ bốn phương cùng chung lí tưởng, tụ họp về đây, trở thành bạn bè.
Ngôn ngữ thơ giản dị nhưng chất thơ toát ra từ cảm xúc của tác giả giúp chúng ta hình dung ra hoàn cảnh của những chiếc xe, dù không có kính những vẫn vượt qua bom đạn băng băng ra tiền tuyến. Cái bắt tay qua cửa kính vơc là hình ảnh đầy xúc động, cái bắt tay ấy như là lời động viên tiếp thêm sức mạnh giúp họ vượt qua mọi thử thách.
"Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh trên đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm"
Tình cảm người lính gắn bó như anh em trong một gia đình, ăn uống chung bát đũa như người trong gia đình. Câu thơ lãng mạn thật mộng mơ. Điệp ngữ lại đi là một sự khẳng định, sự tin tưởng hướng về phía trước, hướng về miền Nam với một niềm tin chiến thắng. Trời xanh không chỉ là cái xanh của thiên nhiên, của sắc trời mà còn là màu xanh của hi vọng, của tuổi trẻ.
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ càn trong xe có một trái tim"
Điệp từ không nhấn mạnh chiến tranh ngày càng khốc liệt làm cho chiếc xe biến dạng nhưng xe vẫn băng băng tiến về miền nam. Tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản giữa hoàn cảnh ác liệt của cuộc kháng chiến vfa phẩm chất của người lính lái xe, ý chí kiên cường của người chiến sĩ quyết tâm chiến thắng kẻ thù. Hình ảnh hoán dụ một trái tim xuất hiện trong câu thơ thật gợi cảm, ta cảm nhận được cuộc sống vui tươi, tình yêu nước nồng nàn, cháy bỏng.
Trái tim như ngọnd dèn, như mặt trời cuối bài thơ. Cội nguồn sức mạnh của những đoàn xe ấy đến từ chính trái tim gan góc, kiên cường chứa chan tình yêu nước của những người lính lái xe. Con mắt thơ chính là câu thơ cuối cùng làm nổi bật hình tượng người lính. Nó cho thấy một điều đó chính là không phả cứ có nhiều vật chất sẽ thắng, mà chính niềm tin mới là vũ khí chiến đấu mạnh nhất.
Với chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam một thời máu lửa mà chính tác giả đã sống và trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh đã tôn vinh vẻd dẹp con người. Ba khổ cuối của bài thơ vẫn là hình ảnh những chiếc xe không có kính nhưng tinh thần mỗi người luôn tồn tại một tấm kính vô hình về niềm tin, sự hi vọng về sự thắng lợi của cách mạng, lòng yêu tổ quốc vô bờ bến.
Ba khổ thơ cuối bài đã khép lại con đường tới miền Nam yêu dấu những đâu đó vẫn văng vẳng tiếng xe chạy, những tiến cười hào sảng của những con người hi sinh cả tuổi xuân để giành lại độc lập cho đấ nước. Bài thơ chính là sự khích lệ đối với những thế hệ trẻ đang sống và làm việc hiện nay, gắng sức để xây dựng non sông đất nước ngày càng giàu đẹp.
Trên đây Luật Minh Khuê đã gửi tới các bạn những mẫu phân tích ba khổ thơ cuối bài thơ về tiểu đội xe không kính hay nhất. Hi vọng đây là những tài liệu hữu ích để các bạn tham khảo.