1. Mở bài

Ca dao cổ truyền Việt Nam có nhiều khúc, nhiều câu diễn tả nỗi nhớ của con người ở mọi tình huống, mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất vẫn là nỗi nhớ của những đôi lứa đang yêu. Nhưng nhớ mà cứ kể mãi rằng nhớ thì thật là vô nghĩa. Bởi thế, bài ca Khăn thương nhớ ai dường như đã có một vị trí riêng trong ca dao về nỗi nhớ. 

 

2. Thân bài.

Bài ca diễn tả nỗi nhớ thầm thương của một cô gái. Đó là nỗi nhớ thương đến tan chảy cả cõi lòng nhưng lại không thể tự bộc lộ một cách buông tuồng, dễ dãi. Nó cũng là tâm trạng và nỗi lòng chẳng biết ngỏ cùng ai, cứ hiện dần lên và sáng mãi ra từ trong cõi nhớ của riêng cô gái. Hẳn là nhớ thương phải bồn chồn lắm, thì cô mới hỏi dồn dập đến vậy: hỏi khăn, hỏi đèn rồi hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi không có câu trả lời cứ liên tiếp cất lên nhưng nén chặt nỗi thương nhớ trong lòng, để rồi cuối cùng trào ra bằng một niềm lo âu mênh mông cho hạnh phúc của lứa đôi: 

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề

Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất, trong sáu câu thơ tức là nửa bài ca. Điều này dường như hợp lý bởi, cái áo, cái khăn thường là vật trao duyên, vật kỷ niệm gửi nhớ người đằng xa.

Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

Nhớ bao khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại 6 lần. Từ "khăn" ở vị trí đầu câu thơ và lấy lại ba lần như một điệp khúc làm cho nỗi nhớ càng thêm triền miên và da diết. Dường như mỗi lần hỏi là một lần nỗi buồn lại trào dâng. Cố nhiên, cái khăn không tự nó làm nên chuyện. Nhưng đằng sau tất cả sự xuống, lên, rơi, vắt của cái khăn là một người hiện lên rất rõ trong tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Nhớ đến mức không còn tự chủ được cả bước đi dáng đứng, ra ngẩn vào ngơ, nhớ đến mức khăn vắt lên vai, khăn rơi xuống đất thì phải là một nỗi nhớ đằm sâu. Đó là nỗi nhớ có không gian. Cái không gian trải ra trên nhiều chiều, còn nỗi nhớ thì cứ quanh quắt ở mọi đường khiến cho con người không thể đứng đâu yên ổn được. 

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

Và nỗi nhớ ấy đã dẫn đến cảnh khóc thầm "khăn chùi nước mắt". Biết bao cô gái đã khóc thầm như thế trong ca dao thuở xưa: 

Nhớ ai em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa

Sáu câu thơ hỏi khăn, 24 chữ thì đã có đến 16 thanh bằng mà hầu hết là thanh không, làm cho nỗi nhớ thương càng thêm bâng khuâng và da diết mà vẫn man mác, nhẹ nhàng. Nỗi nhớ bên trong réo thúc bùng sôi nhưng được nói ra thật ý vị và ngọt ngào. Đó là một nỗi nhớ mang màu sắc nữ tính, nói lên nhân cách của một người nhớ mà biết trân trọng, nâng niu nỗi nhớ ấy, biết ghim lại nỗi nhớ kín đáo trong lòng mình. Đây cũng là kiểu nhân vật trữ tình khá phổ biến trong các ca khúc giao duyên Việt Nam. 

Như vậy với 6 câu thơ đầu, nỗi nhớ đã lan tỏa vào không gian, thấm đượm vào không gian. Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đo theo thời gian: từ nỗi nhớ ban ngày đã chuyển sang nỗi nhớ ban đêm. Ca dao có nhiều câu hát về nỗi nhớ ban đêm: Nửa đêm trở dậy trông trời..., Đêm qua ra đứng bờ ao..., Đêm khuya thắp chút dầu dư..., Anh đi đường ấy bao xa, để em ôm bóng trăng tà năm canh. Ở bài ca này có một cách diễn tả riêng, khá nhất quán và độc đáo. Điệp khúc "thương nhớ ai" được giữ lại, nhưng nỗi nhớ đã được đặt vào cây đèn. Nhớ từ ngày sang đêm, nhớ từ tấm khăn đến ngọn đèn là nỗi nhớ theo thời gian:

Đèn thương nhớ ai, mà đèn chẳng tắt" 

Điều này cũng có tính ước lệ, nó chứng tỏ bài ca là sự thu hút những câu hát lẻ vào một hệ thống. Và trong cái khoảng ưu tư vò võ của đêm khuya thì cái đốm lửa đang cháy sáng trên đầu ngọn bấc kia cũng chính là nỗi nhớ vẫn đang cháy rực trong lòng cô gái. Chừng nào ngọn lửa tình vẫn cháy sáng trong trái tim của người con gái thì ngọn đèn kia không bao giờ tắt. Đèn chằng tắt hay chính con người đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng với thời gian. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp nhưng chắc chắn đã có sự đồng vọng mãnh liệt trong tâm hồn chàng trai cũng đang ngổn ngang trăm mối. Và nếu như trên kia, cái khăn biết giãi bày, thì ở đây, ngọn đèn cũng đã biết thổ lộ, nó đã nói với chúng ta nhiều điều không có trong lời ca. 

Nhưng dù kín đáo, gợi cảm bao nhiêu, thì cái khăn và ngọn đèn cũng chỉ là một cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng. Đến đây như không kìm được lòng mình, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình:

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Nỗi ưu tư vẫn còn nặng trĩu, khối tình vẫn còn y nguyên cho nên cứ nhắm mắt vào thì người thương lại hiện lên. Thế thì có phải tại đôi mắt nhớ người thương? Chẳng qua đây là nỗi niềm nhớ thương của cô gái đã đặt vào đôi mắt của mình. Ở trên "đèn chẳng tắt" thì ở đây "mắt ngủ không yên": hình tượng thật là hợp lý, nhất quán như chính niềm thương nỗi nhớ của cô gái. Nỗi nhớ được nói liên tiếp dồn dập trong 10 câu thơ bốn chữ. Năm lần hỏi là năm lần từ "ai" vang lên trong điệp khúc thương nhớ thấy vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải.

Ngoài ra đoạn thơ còn hay ở cách gieo vần, theo đó vần chân và vần lưng xen kẽ nhau. Tất cả hòa quyện vào nhau, xoắn xuýt lấy nhau tạo nên một âm điệu luyến láy liên hoàn. Khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa như đọng lại xoáy sâu vào lòng người đọc lại vừa như kéo dài ra đến mênh mông vô tận. Đó là nỗi nhớ thương bùng cháy được nén lại nhưng rồi lại tỏa ra bâng khuâng trong không gian và thời gian. Bởi thế, lần theo mạch cảm xúc chạy suốt bài ca thì niềm thương nhớ ấy lại trào ra thành nỗi lo phiền của cô gái: 

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề

Đây không phải là tình yêu và nỗi thương nhớ bình thường. Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập, lời ca chuyển sang lục bát nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn. nhớ thương người yêu nhưng vẫn lo lắng cho số phận của mình, cho duyên phận đôi lứa. Phải đặt bài ca này trong cuộc sống của người phụ nữ xưa và trong hệ thống của những bài ca than thân về hôn nhân và gia đình ta mới thấy hết ý nghĩa của hai câu kết. Hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh vì tình yêu tha thiết đến đâu cũng vẫn nơm nớp một nỗi lo sợ mênh mông. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà trong phần cuối bài ca đã hai lần nhắc đến nỗi lo phiền. Chỉ có điều, qua tâm trạng lo âu đó ta vẫn nhận ra ở đây một tiếng hát đầy yêu thương. Phải chăng đây là lý do khiến cho tiếng hát không hề bi lụy mà vẫn chan chứa tình người và dạt dào sức sống. Và vì thế bài ca này vẫn là một khúc hát trữ tình lạc quan của người bình dân Việt Nam thuở xưa. 

 

3. Kết bài

Chính vì vậy, Khăn thương nhớ ai đã vượt được chặng đường thời gian để đến với chúng ta ngày nay, khi con người vẫn đang cần tình yêu, cần những nỗi thương nhớ ngọt ngào và sâu lắng đến thế. Nó xứng đáng là một trong những viên ngọc thơ long lanh của người bình dân Việt Nam.

Trên đây là bài mẫu phân tích ca dao Khăn thương nhớ ai hay và chọn lọc nhất mà luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc. Hi vọng bài viết này đã đem đến cho bạn những kiến thức bổ ích. Xin chân thành cảm ơn!