1. Dàn ý phân tích "Bài ca ngất ngưởng":

1.1 Mở bài:

  • Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Công Trứ (tiểu sử, đặc điểm con người, đặc điểm sáng tác)
  • Khái quát về bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật)

 

1.2 Thân bài:

Nhan đề “Ngất ngưởng” - Cảm hứng chính của tác giả

  • Xét theo nghĩa đen: “ngất ngưởng” là một từ láy dùng để chỉ độ cao - cao hơn người khác, vật khác và luôn ở trong trạng thái nghiêng ngả, chực đổ, nó không hoàn toàn vững nhưng cũng không thể nào đổ được.
  • Nó được xuất hiện 4 lần trong toàn bộ tác phẩm, và là một từ láy giàu ý nghĩa
  • Trong tác phẩm, “ngất ngưởng” là lối sống, thái độ sống của tác giả Nguyễn Công Trứ.

Sáu (6) câu đầu: Ngất ngưởng khi ở chốn làm quan

  • Sự khẳng định vai trò, vị trí của chính mình trong trời đất
  • Câu thơ chữ Hán mở đầu đã khẳng định mạnh mẽ lý tưởng nam nhi mà tác giả tự nguyện hướng theo, đây là lý tưởng chung của những người đi theo con đường Nho học: trong vòng trời đất không có việc gì là không phải việc của mình.
  • Ông đã phô diễn, đã khoe tài năng, danh vị của mình:
  • Sử dụng hàng loạt từ Hán Việt - Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông cùng bút pháp liệt kê và điệp ngữ.
  • Bằng việc sử dụng hàng loạt từ ngữ Hán Việt cùng biện pháp liệt kê, Nguyễn Công Trứ đã khéo léo điểm lại hàng loạt các chức quan, danh vị mà mình đã từng đảm nhiệm, điều đó cho thấy ông là một người văn võ song toàn.
  • => Việc khoe tài năng, danh vị ấy của Nguyễn Công Trứ không phải là tự cao, tự đại, khoe khoang hợm hĩnh mà nó dựa trên tài năng và sự nghiệp của chính bản thân ông, là một cái vỏ bên ngoài để giấu sâu bên trong là một cái tôi ý thức rõ về tài năng, danh vị của bản thân mình

Mười ba (13) câu còn lại: Ngất ngưởng khi cáo quan về hưu

  • Lối sống khác người, khác đời, rất là trái khoáy
  • Ngồi trên con bò vàng được trang sức bằng đạc ngựa cho con bò vàng đó.
  • Đi vãn cảnh chùa lại mang theo một cô gái hầu đẹp đến mức Bụt cũng phải chào thua
  • Không chú ý nhiều đến chuyện được, mất, khen chê bởi với ông, chuyện được, mất. Có quan niệm sống rõ ràng, không quan tâm đến chuyện được - mất, khen - chê: Với ông, giữa được và mất, khen và chê không biết cái nào hơn cái nào.
  • Ông đã lựa chọn cho mình một lối sống tự do, được thỏa chí làm những việc mình muốn: Coi trọng hiện tại, hiện thế và biết thưởng thức những thú vui có trong cuộc đời như thú hát cô đầu, thú uống rượu và đặc biệt là ái tình.
  • Ông đã có một lời tự tổng kết về cuộc đời đầy minh bạch và đượm vẻ hài lòng ở trong những câu thơ khép lại bài thơ.
  • => Thái độ sống, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ đã vượt ra ngoài vòng cương tỏa nhưng ông vẫn luôn là một bề tôi hết mực trung thành.

Những bài học được từ bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”:

  • Cần ý thức được vai trò, vị trí của bản thân trong cuộc sống và ý thức rõ ràng về tài năng của chính mình.
  • Không được sống nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ biết quan tâm đến chuyện được, mất, khen, chê của mình mà quên đi những người xung quanh.
  • Có một quan niệm sống, lý tưởng sống đúng đắn, phải biết vượt ra khỏi cuộc sống tù túng, tẻ nhạt để sống một cuộc sống giàu ý nghĩa.

 

1.3 Kết bài:

  • Khái quát những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ
  • Nêu cảm nghĩ của bản thân và liên hệ

>> Xem thêm: Soạn bài Bài ca ngất ngưởng chi tiết và dễ hiểu nhất Ngữ văn 11

 

2. Mẫu phân tích "Bài ca ngất ngưởng" chọn lọc nhất:

Nguyễn Công Trứ hiệu là Tồn Chất, hiệu là Hi Văn, sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là Nguyễn Công Tấn, đỗ cử nhân, từng làm tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình) , sau đó vì tham gia phong trào phụ Lê chống lại Tây Sơn, nên được triều Lê phong tước Đức Nghi Hầu. Nguyễn Công Trứ là một người tài năng hiếm có về mọi mặt, đã sớm lựa chọn con đường tiến thân bằng khoa cử công danh. Thời trẻ, Nguyễn Công Trứ học hành chăm chỉ, song khoa cử lận đận, mãi đến năm 42 tuổi mới đỗ tiến sĩ. Cuộc đời làm quan của ông lên xuống thất thường, vậy mà lúc nào ông cũng nuôi chí lớn và giữ gìn đạo tôi trung Nguyễn Công Trứ hăng hái thi hành chức trách, phận sự, nhất là việc nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, song không quên yếu tố tiến bộ của người quân tử. Khi làm quan, ông nổi tiếng liêm khiết. Trong việc khai khẩn đất hoang và quai đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã Đem lại lợi ích cho nhân dân ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) . Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, dù đã 80 tuổi Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ xin được mang quân ra trận đánh giặc. Cũng năm ấy, ông qua đời. Nguyễn Công Trứ là hiện tượng đặc biệt của một kẻ sĩ mà có đời sống phóng khoáng và cá tính riêng, độc đáo. Thơ ca còn lại của Nguyễn Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù và một bài phúng, được sáng tác bằng chữ Nôm. Ngoài ra còn có một số bài thơ chữ Hán và một số câu đối Hán. Sự nghiệp thi ca của Nguyễn Công Trứ hết sức rạng rỡ, cho thấy một cá tính nghệ thuật vô cùng đặc biệt được thể hiện rất rõ trong bài phú "Hàn nho phong vị phủ", và trên 60 bài thơ hát nói về tài hoa. "Bài ca ngất ngưởng" là một trong những áng thơ hát nói tuyệt tác của nền thơ ca Việt Nam. Bài hát gồm có hai khổ chính tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, khi du dương, dịu dàng, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên thấy rất hấp dẫn. Hắt cũng là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ và chất nhạc phối hợp rất nhịp nhàng, hấp dẫn. Nguyễn Công Trứ về hưu năm 1848, có gần 30 năm làm quan với triều Nguyễn. Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được ông sáng tác ngay khi đã về ở ẩn tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tâm sự với cuộc đời, qua đó ông Hi Văn nói về tài năng, đức độ và công danh của bản thân, thể hiện một cá tính, một phong cách sống tự do, phóng túng ở đời. "Ngất ngưởng" nghĩa là không vững vàng, ở nơi chênh vênh dễ ngã, dễ vỡ (Từ điển tiếng Việt) .

Trong bài thơ này nên hiểu "ngất ngưởng" là một con người khác đời, cách sống khác đời và thách thức mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài hát, nên điệu tâm hồn với tất cả lòng kiêu hãnh và sự say mê hiếm thấy. Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời thề của đấng mày râu, đấng tài trai. Nói trang trọng và hùng hồn: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự" - mọi việc trong vũ trụ này có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói khác để khẳng định đinh tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đời chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: "Vũ trụ giai ngô phận sự" (Tất cả việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của người) – Nghiệp thiên hạ; "Vũ trụ chức phận nội" (Việc trong vũ trụ là trách nhiệm của ta – Gánh trung hiếu) . Có cái tâm thế đó, là bởi "Ông Hi Văn tài bộ đã vô lồng". Hi Văn là bút danh của Nguyễn Công Trứ. "Tài bộ" là tài năng to, lắm tài năng. Chữ "lồng" trong thơ có những cách diễn đạt khác nhau. "Vào lồng là vô phép ở những chỗ chật chội, tù túng trái với cái tài bộ của ông" (Lê Trí Viễn) . Có người thì nói: "lồng là đất trời, vũ trụ". Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: "Đã mang tiếng ở trong vũ trụ", hay "Không công danh chi đứng giữa trời đất" (thế gian: cuộc đời, cõi trần) . Cách giải thích thứ hai hợp lý hơn, bởi vì có vào lồng vũ trụ ta mới có ý chí tranh đấu, nên ông nói: "Chí làm trai nam bắc tây đông, Để thỏa sức vẫy vùng trong trời đất". Sau khi đã thành danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình, "tài bộ" mình và chí nam nhi của ông có tầm vóc vũ trụ. Ông Hi Văn là một người có tài và thật danh. Học hành thi giỏi, ông đã thí nói với thiên hạ: "Cái nợ cầm thư không trả được". Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Thượng thư; làm quan huyện, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lừng lẫy "Làm bậc anh hùng đâu đấy nước" (" Chí anh hùng "). Đứng trên đỉnh cao danh vọng phải có văn võ vẹn toàn, vì có "gốm thao lược", bởi chỉ lúc ấy ông Hi Văn mới thành "tay ngất ngưởng", một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp ba lần lặp lại từ "khi" đã tạo ra một giọng điệu hào hùng, bộc lộ một cốt cách phi thường và một chí khí cực kỳ mãnh liệt. Sau quan niệm ấy là sự hiện hữu một con người tài năng xuất chúng và danh vọng vẻ vang: "Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng, có thể làm Phủ doãn Thừa Thiên". Tính tự thuật qua các hình tượng từ nhân xưng về học vấn, quan chức, tài năng đã khắc họa con người cá nhân tự ý thức của nguyễn công trứ đến mức độ bộc lộ ra ngoài bộ dạng: "Ông Hi Văn tài bộ đã vô lồng". Câu thơ còn có ý vị trào phúng: một con người tầm cỡ vậy mà lại chịu đặt mình vào cái lồng hạn hẹp. Nhưng chút cười đùa này cũng là một cách thể hiện lòng tự tin của Nguyễn Công Trứ. Ông không phải không biết chốn quan trường quá nhiều thứ khó có thể bắt trói được. Trong hình thức biểu hiện có sự phối hợp hệ thống từ Hán - Việt và từ Nôm: những từ Hán Việt như quan chức, danh vị thể hiện một tài năng lớn gắn liền với xã hội phong kiến; còn từ Nôm là những từ thông dụng được dùng linh hoạt trong các câu thơ dài ngắn xen kẽ nhau, nhịp điệu uyển chuyển, đến mức thể hiện con người cá nhân tự do, đồng thời nêu rõ cái gốc sự lựa chọn ở con người ấy là gì: "Giỏi lược đã thành tay cao". Như vậy con người cao ở đây là con người cũng là cơ sở để cá nhân vươn lên khỏi sự trói buộc. Cái ngất ngưởng trong thơ Nguyễn Công Trứ là sự ngất ngưởng về những được mất. Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được ghi nhận qua những chiến thắng và những lần xuất ngoại. "Lúc bình Tây, cờ đại tưởng Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên". Cách chức cũng có những bước thăng trầm, cay đắng. Theo sử ghi thì Nguyễn Công Trứ làm đại tướng, khi bị cách xuống làm dân thường, từ quan là nhờ tài năng hơn người của ông. Nhưng còn mấy lần bị giáng nữa? Và còn đó những ý kiến phê chê của dư luận. Nguyễn Công Trứ thấy rõ đằng sau sự bất công mà ông phải gánh chịu là mặt trái của xã hội phong kiến. Khi cần ông tố cáo gay gắt: "Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng nhìn cái túi đầy" (Vịnh nhân tình thế thái) Tuy nhiên, cách thể hiện thái độ được Nguyễn Công Trứ đặc biệt ưa thích là đem tương phản con người mình với xã hội qua một tư thái ngông nghênh và tiếng cười sảng khoái. Sách vở chép rằng lúc nghỉ hưu Nguyễn Công Trứ hay cưỡi lên lưng một con bò vàng có gắn nhạc ngựa và thường lấy một mo cau cột chỗ đuôi bò, bảo là để che ở trần gian. Và ông cho rằng đó là sự tượng trưng: "Con ngựa bò vàng đeo đầy". Bên trong tiếng cười và điệu bộ đó là triết lý tự nhiên về sự được mất: "Được mất dương dương người tái thượng". Nguyễn Công Trứ đã thông qua điển tích "Tái ông thất mã" mà bộc lộ bản chất xã hội và mở ra cách nhìn của mình. Xã hội đầy biến động thời Nguyễn Công Trứ thiếu gì cảnh "lên voi xuống chó" và đó là mảnh đất nảy sinh quan niệm về sự không may mắn. Nhưng là ở con người bản lĩnh cứng cỏi và niềm tin ở bản thổ như Nguyễn Công Trứ thì quan niệm đó lại biến thành tư tưởng hoài nghi khiến con người dễ dàng từ bỏ hoặc bị lôi kéo vào chủ nghĩa "vô vi" của Lão Trang. Trái lại, nó đem đến lý lẽ cho ông không phải bận tâm với việc cuộc đời "nóng lạnh" và thêm phần "dương dương". Tuy nhiên, đối mặt với sự "được mất" cũng có nghĩa đối mặt với sự giàu nghèo và vinh nhục đó là các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống. Hiểu như vậy chúng ta sẽ thấy con người "dương dương" hay "ngất ngưởng" đích thực là con người có khả năng và bản lĩnh vươn tới các thế lực xưa nay ngự trị trong đời sống con người. Đây là đoạn ý thơ dài nhất và cũng là câu hay nhất của bài thơ. Hai câu trước trải dài, uyển chuyển giống như tấm lòng không hề vướng chút gì trong nhịp điệu này thì hai câu sau là nhịp ca, nhịp nhạc, nhịp kèn, nhịp rượu chúc tụng, tất cả dồn lại rối rít để chấm dứt bằng một chữ mang thanh trắc đục, mạnh, kết thúc câu thơ ấy cũng là đánh mạnh dùi xuống mặt trống để tự an ủi, tự hào và tự thể hiện sự tài hoa, cái phóng khoáng của tâm hồn mình. Chỉ vài câu thơ đó cũng đủ bộc lộ tâm tình của Uy Viễn tướng công, cho chúng ta thấy được phần nào cái khí phách và Bài ca bất hủ này của cụ. Kết thúc bài thơ, Nguyễn Công Trứ cũng đã tiếp tục cái nhịp điệu quen thuộc của đạo sơ chung với triều Nguyễn, dù câu đó được sắp xếp giữa một câu tự đánh giá cao và một câu như muốn thách thức với cả triều đình: "Nghĩa gì cho trọn đạo sơ chung". Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Nội dung ngất ngưởng bất chấp dư luận, nhưng mọi sự đã tìm thấy ở thể ca trù một âm điệu hoàn toàn thích hợp: câu ngắn, câu dài, vần liền từng cặp xen kẽ nhau nhịp nhàng; niêm luật tự do, đối không bắt buộc, âm điệu quyết định ở trạng thái tinh thần thi sĩ: đau thương, giận dữ, giễu cợt. Giọng điệu bài thơ mang nét đặc trưng của cụ: tự hào gần như tuyệt đối và đôi khi đến ồn ào. Hai nét lớn trong tính cách cụ không bao giờ che giấu: ích lớn mà kể xem như chuyện thường, nhưng thú chơi ngông lại được tôn vinh tuyệt đối.