Phân tích bài thơ Hai chữ nước nhà chọn lọc hay nhất - Mẫu số 1

Với những bài thơ của thế kỷ XX, chủ đề chính thường xoay quanh lịch sử đáng tự hào của dân tộc, lòng yêu nước, và sự tìm kiếm những hướng đi mới mẻ để phát triển đất nước. Các nhà thơ đã đưa hết lòng nhiệt huyết của mình vào mỗi tác phẩm, trong đó "Hai Chữ Nước Nhà" của Trần Tuấn Khải là một ví dụ tiêu biểu. Tác giả đã nhập tâm sâu sắc vào nhân vật, khai thác những thể thơ hay và dòng tâm sự chân thực để phản ánh cuộc sống của thế hệ chí sĩ yêu nước, truyền tải tâm huyết của mình đến thế hệ trẻ của một dân tộc anh hùng.

Bài thơ, trích dài 36 câu, nổi tiếng trong tập "Bút quan hoài I" viết năm 1924, thể hiện rõ từng suy nghĩ của tác giả qua thể thơ song thất lục bát điêu luyện, mang đến nhiều cảm xúc cho người đọc. Nội dung bài thơ tuy quen thuộc nhưng lại ấn tượng với những lời tâm sự chân thành của người cha - một chí sĩ, anh hùng, vị quan tài giỏi sắp phải ly biệt tổ quốc vì sự tàn ác của quân Minh, và người con trai hiếu thảo, có ý chí, giúp hình dung hoàn cảnh đất nước với quy luật thịnh suy của các triều đại.

Những tội ác của quân giặc gây đau khổ cho người dân nhẫn nhục, đắng cay, và giấc mơ về một tương lai đầy trách nhiệm với tổ quốc, nối tiếp sự nghiệp của người cha để đánh đuổi giặc, giải phóng đất nước, đưa đất nước đi lên. Bài thơ có thể chia làm ba phần rõ rệt. Phần một (8 câu đầu) thể hiện tâm trạng của người cha khi sắp phải rời xa đất nước. Phần hai (20 câu tiếp theo) khắc họa cảnh ngộ của người cha trong cảnh nước mất nhà tan. Phần ba (8 câu còn lại) là lời dặn dò và trao gửi tâm nguyện cứu nước cho con. Nội dung bài thơ gây ấn tượng mạnh từ nhan đề "Hai chữ nước nhà".

"Nước" tượng trưng cho dân tộc, "nhà" là nơi thân thiết. Trong hoàn cảnh lịch sử hay thời kỳ hiện đại, hai từ này luôn đi cùng nhau để nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng và gần gũi với mỗi con người. Trong thời kỳ lầm than, phong kiến thống trị, giặc ngoại xâm lộng hành, hai từ này càng sâu sắc, làm ta hình dung được câu "Nước mất nhà tan".

Tình yêu gia đình phải được nâng lên thành tình yêu nước, thù nhà chỉ được giải quyết khi nợ nước được giải quyết. Vì vậy, nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh đã giúp con hiểu rằng tình cảm cá nhân, tình hiếu thảo với cha mẹ nên hòa quyện trong tình yêu nước lớn lao mới có ý nghĩa.

Khung cảnh cuộc chia ly đầy xúc động giữa người cha và con trai nơi biên giới ảm đạm, buồn đau, nơi ra đi của hàng vạn chiến sĩ yêu nước, chỉ kịp nói lời vĩnh biệt tổ quốc trong lặng lẽ. Nỗi đau nhà chí sĩ dồn nén, gửi gắm niềm tin quý báu cho con trong phút giây ngắn ngủi, thể hiện rõ trong từng câu thơ giàu hình ảnh và cảm xúc lắng đọng ở phần đầu:

"Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu.
Bốn bề hổ thét chim kêu,
Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình."

Qua lời thơ, không chỉ là lời trò chuyện chân thành giữa hai người đàn ông trưởng thành, mà còn là lời trăng trối thiêng liêng, nặng ân tình, cuộc chia ly buồn bã, căm tức quân giặc, khiến người con khắc cốt ghi tâm.

Người con trai duy nhất luôn mong muốn được đi theo để báo hiếu cha, nhưng người cha mẫu mực, đầy khí chất đã gạt bỏ tình riêng, mang nợ nước thù nhà đặt lên vai con như một khẩn nguyện cuối cùng:

"Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dậm khơi
Trông con tầm tã châu rơi
Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:"

Phần một mở ra nội dung sâu sắc của phần hai là tình cảm của người cha với đất nước, từ hoàn cảnh thực tế nước nhà vẫn lầm than nô lệ, tội ác của giặc, nhấn mạnh xuất thân dân tộc, khí phách quật cường, và lòng tự hào dân tộc.

"Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
Trời Nam riêng một cõi này
Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!"

Lời nhắc đầy tự hào về lịch sử quê hương, "giống Hồng Lạc" là chủ của đất nước riêng, "Trời định đoạt sẵn". Ông phân tích cho con qua các triều đại, quy luật "thịnh suy" là tất yếu, mỗi thời đại có những anh hùng vĩ đại. Tiếp đó là lời than thở đầy hận thù nhưng bế tắc về tội ác của quân Minh:

"Than vận nước gặp khi biến đổi
Để quân Minh thừa hội xâm lăng
Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!"

Tác giả thành công trong việc sử dụng thể thơ để diễn đạt nỗi uất ức, căm giận, lời mắng nhiếc, tiếng thở than. Người cha mẫu mực, đầy chí khí anh hùng, lấy giang sơn làm trọng, cố khuyên con những điều tâm huyết nhất, vì vậy mà Nguyễn Trãi dặn lòng, ghi tạc trong lòng, tiếp nối thế hệ, được ghi danh trong bảng vàng.

"Cha xót phận tuổi già sức yếu
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay
Thân lươn bao quản vũng lầy
Giang sơn gánh vác sau này cậy con"

Tác giả bài thơ nhập hồn vào cảm xúc của nhân vật, tự hào với chiến tích lịch sử rạng ngời của đất nước ngàn đời:

"Con nên nhớ tổ tông khi trước
Đã từng phen vì nước gian lao
Bắc Nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây."

Những câu thơ đậm tình yêu nước từ thể thơ cổ điển, nhưng truyền tải hình ảnh sắc nét, chân thực, khắc họa sâu đậm tầm vóc thời đại. Những hình ảnh mạnh mẽ, tự cường của dân tộc, ngọn cờ Đại Cồ Việt bay phấp phới trong trái tim tự hào của mỗi người con khi nhắc về tổ quốc thiêng liêng.

Khổ ba đậm ý nghĩa, lời ông dặn con phải là chính mình - một người có học thức, sống hiên ngang với "Chí làm trai", khuyến khích lòng yêu nước nơi người con, nuôi mối thù truyền kiếp, chủ động đánh đuổi giặc, không để mất nước dễ dàng.

Niềm tin vào thế hệ trẻ và tương lai đất nước mãnh mẽ có thể làm nên những điều to lớn cho dân tộc, hành động quyết liệt để cha ông dù nằm xuống vẫn cảm thấy không nuối tiếc.

"Hai chữ nước nhà" là một trong những bài thơ hay nhất của tác giả, mượn lời thông minh từ suy nghĩ của nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh trong xúc cảm khi đứng trước cảnh li biệt tổ quốc, mất nước, để gieo lòng yêu nước bất diệt, tạo nên sức sống vĩnh cửu cho đất nước. Đây là bài thơ tuyên truyền yêu nước, không khác gì những bài thơ cách mạng trong phong trào thơ Mới hiện nay.

 

Phân tích bài thơ Hai chữ nước nhà chọn lọc hay nhất - Mẫu số 2

Với những áng thơ của thế kỷ XX, các tác giả đã chọn hướng sáng tác chủ đạo là khai thác những khía cạnh lịch sử vẻ vang của dân tộc, khơi dậy tình yêu nước và tìm kiếm những ý tưởng mới mẻ để phát triển đất nước. Các nhà thơ đã gửi gắm lòng nhiệt huyết của mình vào mỗi tác phẩm. Trong số đó, "Hai Chữ Nước Nhà" là một tác phẩm xuất sắc của Trần Tuấn Khải, tác giả đã nhập vai sâu sắc vào nhân vật, sử dụng thể thơ tinh tế và dòng tâm sự chân thực để tái hiện cuộc sống của thế hệ chí sĩ yêu nước, đồng thời truyền tải nhiệt huyết của mình đến những thế hệ trẻ của một dân tộc anh hùng.

Toàn bộ bài thơ là một đoạn trích dài 36 câu, được viết trong tập "Bút Quan Hoài I" vào năm 1924. Mỗi suy nghĩ của tác giả dường như đã được truyền tải một cách hoàn hảo nhờ thể thơ song thất lục bát tinh tế, mang đến nhiều cảm xúc cho người đọc.

Nội dung của bài thơ, dù quen thuộc nhưng vẫn gây ấn tượng mạnh bởi đề tài yêu nước được thể hiện qua những lời tâm sự chân thực và mong mỏi của người cha - một nhà chí sĩ, nhà anh hùng và vị quan tài giỏi. Trong tình cảnh sắp phải ly biệt tổ quốc vì bọn giặc Minh tàn ác, người cha đã giúp con trai hiểu được hoàn cảnh đất nước và quy luật thịnh suy của các triều đại.

Những tội ác mà bọn giặc gây ra đã mang đến đau khổ cho người dân vô tội. Người cha, dẫu phải gạt bỏ tình riêng, vẫn nuôi dưỡng ước mơ về một tương lai đầy trách nhiệm với tổ quốc, nối tiếp sự nghiệp đánh đuổi giặc và giải phóng đất nước.

Bài thơ có thể chia thành ba phần rõ rệt. Phần một (8 câu đầu) thể hiện tâm trạng của người cha trước khi rời xa đất nước. Phần hai (20 câu tiếp theo) miêu tả cảnh ngộ nước mất nhà tan. Phần ba (còn lại) là lời dặn dò và trao gửi tâm nguyện cứu nước cho người con. Ngay từ nhan đề "Hai Chữ Nước Nhà," bài thơ đã gây ấn tượng mạnh mẽ.

"Nước" chỉ chung dân tộc, "nhà" chỉ nơi thân thiết. Trong hoàn cảnh lịch sử hay thời hiện đại, hai từ này vẫn đi kèm nhau, thể hiện sự gắn bó sâu sắc và quan trọng đối với mỗi con người. Nhưng trong thời kỳ phong kiến lầm than, giặc bán nước cướp nước, hai từ này càng trở nên không thể tách rời và sâu sắc, minh chứng qua câu nói "Nước mất nhà tan."

Tình yêu gia đình phải nâng lên thành tình yêu nước, và thù nhà chỉ được giải quyết khi nợ nước được trả. Nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh đã giúp con hiểu rằng tình cảm cá nhân, lòng hiếu thảo với cha mẹ phải được hòa quyện trong tình yêu nước lớn lao.

Không thể ngừng suy nghĩ và liên tưởng đến cảnh chia ly xúc động, nơi vùng biên giới trở nên ảm đạm và buồn đau, nơi mà hàng vạn chiến sĩ yêu nước đã ra đi, chỉ kịp nói lời vĩnh biệt tổ quốc trong lặng lẽ. Nỗi đau của nhà chí sĩ phải dồn nén, gợi mở ra niềm tin quý báu cho con trong những phút giây gặp gỡ cuối cùng, được thể hiện rõ trong từng câu thơ đầy hình ảnh và cảm xúc lắng đọng ở phần đầu.

"Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,

Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu.

Bốn bề hổ thét chim kêu,

Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình."

Qua những lời thơ, ta thấy không chỉ là cuộc trò chuyện chân thành giữa hai người đàn ông mà còn là lời trăng trối thiêng liêng, nặng ân tình và ý nghĩa lớn lao. Cuộc chia ly diễn ra trong nỗi buồn và căm tức quân giặc nhưng đầy bất lực, khiến người con phải khắc cốt ghi tâm.

Người con trai duy nhất muốn đi theo để báo hiếu, nhưng người cha mẫu mực đã gạt bỏ tình riêng, mang theo nợ nước thù nhà thiêng liêng và đặt lên vai người con như một khẩn nguyện cuối cùng.

"Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước

Chút thân tàn lần bước dậm khơi

Trông con tầm tã châu rơi

Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:"

Phần một mở ra những nội dung sâu sắc của phần hai, thể hiện tình cảm của người cha với đất nước. Từ hoàn cảnh nước nhà lầm than nô lệ, tội ác của giặc Minh được nhấn mạnh, xuất thân của dân tộc và khí phách quật cường luôn tồn tại. Quan trọng nhất là lời dặn dò về lòng tự hào dân tộc.

"Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay Trời Nam riêng một cõi này Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!"

Lời nhắc đầy tự hào về lịch sử quê hương "giống Hồng Lạc" đã trở thành chủ nhân của đất nước, được "Trời định đoạt sẵn." Ông phân tích cho con về quy luật "thịnh suy" của các triều đại, rằng trong mỗi thời kỳ đều có những anh hùng làm nên chiến công hiển hách đáng tự hào, kể cả những người phụ nữ "chân yếu tay mềm" cũng trở thành "nữ hiệp cứu nước."

Tiếp đó, những lời than thở đầy hận thù và bế tắc khi nói đến tội ác của quân Minh, chúng luôn có mưu đồ cướp nước, gây đau khổ cho người dân vô tội.

"Than vận nước gặp khi biến đổi

Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng

Bốn phương khói lửa bừng bừng

Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! …"

Tác giả đã tận dụng ý nghĩa của thể thơ để gửi gắm tâm sự, sử dụng lối nghệ thuật riêng để diễn đạt nỗi uất ức, căm giận, lời mắng nhiếc, tiếng thở than và nỗi u sầu.

“Càng nói thì lại càng đau,” người cha mẫu mực và đầy chí khí anh hùng bật tiếng khóc nghẹn ngào cho hoàn cảnh "lực bất tòng tâm" của chính mình, cố khuyên con những điều tâm huyết nhất vì giang sơn. Nguyễn Trãi, người có học và sống tình cảm, đã ghi tạc trong lòng và tiếp nối thế hệ, được ghi danh trong bảng vàng những người có công lao to lớn cho dân tộc.

"Cha xót phận tuổi già sức yếu

Lỡ sa cơ đành chịu bó tay

Thân lươn bao quản vũng lầy

Giang sơn gánh vác sau này cậy con"

Tác giả như đắm mình vào cảm xúc của nhân vật, tự hào về những chiến tích lịch sử rạng ngời của đất nước.

"Con nên nhớ tổ tông khi trước

Ðã từng phen vì nước gian lao

Bắc Nam bờ cõi phân mao

Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây …."

Những câu thơ đậm tình yêu nước từ thể thơ cổ điển đã khắc họa sâu đậm vấn đề tầm vóc thời đại. Với những hình ảnh mạnh mẽ, ngọn cờ Đại Cồ Việt luôn bay phấp phới trong trái tim đầy tự hào của mỗi người con khi nhắc về tổ quốc thiêng liêng.

Lời dặn dò cuối cùng của người cha là luôn phải là chính mình, sống hiên ngang với “Chí làm trai,” kích thích lòng yêu nước, nuôi dưỡng mối thù truyền kiếp của dân tộc và luôn tìm cơ hội đánh đuổi giặc.

Hơn hết, người cha tin tưởng vào thế hệ trẻ và tương lai của đất nước, rằng họ sẽ làm nên những điều to lớn để duy trì sự vững bền của dân tộc.

"Hai Chữ Nước Nhà" là một trong những bài thơ hay nhất của Trần Tuấn Khải. Bài thơ không chỉ là lời trăng trối của nhà yêu nước Nguyễn Phi Khanh mà còn là sự gửi gắm lòng yêu nước bất diệt, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tạo nên sức sống vĩnh cửu cho đất nước. Bài thơ này mang tính chất tuyên truyền yêu nước, không khác gì những bài thơ cách mạng trong phong trào thơ Mới.