Phân tích chí làm trai trong Xuất dương lưu biệt
Trong những năm đầu thế kỷ XX, khi mà đất nước ta lại bị xâm lược bởi giặc ngoại xâm và các cuộc kháng chiến bùng nổ mạnh mẽ ở khắp mọi miền đất nước. Một trong những lá cờ đầu của kháng chiến chống giặc thời bấy giờ là người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Ông không chỉ mang tới một con đường cứu nước mới mẻ mà còn chắp bút viết nên những tác phẩm có sức cổ động mạnh mẽ, làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam cũng như kích thích ý chí chiến đấu, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than. Tiêu biểu trong số những tác phẩm đó phải nhắc tới bài thơ " Xuất dương lưu biệt" - một bài thơ nói về tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc và đặc biệt là "chí làm trai" khác biệt của ông.
Năm 1905, đất nước đang trong tình hình nguy nan, bị kìm kẹp bởi chế độ thực dân. Là một người có chủ trương duy tân đất nước, ông đã lên đường sang Nhật để tìm đường cứu nước. Trước khi đi, ông đã sáng tác bài thơ "Xuất dương lưu biệt" để gửi tặng những người bạn của mình cũng như bày tỏ lòng yêu nước cùng khát vọng giải phóng dân tộc của ông.
Mở đầu bài thơ, Phan Bội Châu đã nêu lên quan niệm về chí làm trai của bản thân ông:
Sinh vi nam tử yếu vi kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển đi
(Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời)
Nói về chí làm trai chẳng phải tới bây giờ mới được Phan Bội Châu nói tới và khẳng định. Trước đó, trong thơ trung đại, Nguyễn Công Trứ cũng đã nhắc tới điều này trong bài thơ "Chí nam nhi":
Thông minh nhất nam tử
Yếu vi thiên hạ kỳ
Thế nhưng trong bài thơ của Phan Bội châu, chí làm trai ấy cũng chẳng mất đi sự mới lạ, thôi thúc bởi đó là điều mà tác giả đã nung nấu biết bao nhiêu lâu mới có thể nói hết ra. Đó không chỉ là những lời tự vấn mà còn là cách để tự nâng cao tinh thần của mình: đã là đấng nam nhi trên đời phải làm nên những điều lạ, những kỳ tích để giúp đời, giúp người. Đã làm trai phải làm những điều phi thường, dời non lấp bể, không ngại khó ngại khổ:
Há để càn khôn tự chuyển dời
Phải là một bậc hào kiệt, một người có suy nghĩ thấu đáo mới có thể nói được như vậy. Câu thơ là một câu hỏi tu từ không cần câu trả lời, bởi nó vừa khẳng định vừa muốn nói với tất cả những đấng mày râu ở trên đời này đó là không được để càn khôn tự chuyển rời. Đây thực sự là một tư tưởng táo bạo, mới mẻ của một người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình ở thời bấy giờ. Câu thơ như đã đánh thức nội tâm của mỗi người nam nhi để họ sẽ tham gia vào cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hai câu thơ tiếp theo, tác giả tiếp tục nhận thức và nói về trách nhiệm với thời đại của mình:
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
(Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai)
Câu thơ đã mang đến một làn gió mới, một điều lạ bởi trong nền văn học phi ngã lúc bấy giờ lại sừng sững hiện lên một chữ "ngã" đầy kì lạ. Chỉ một từ "ngã" đã khiến người đọc cảm nhận được sự nhận thức của tác giả về sự hiện hữu của cái tôi, những trách nhiệm của tôi với thời đại ấy chẳng khác nào một ngọn lửa giữa đêm đông. Cái tôi đó không phải là sự hưởng thụ mà là sự tham gia vào chuyển dời của càn khôn. Giống như Nguyễn Đình Chú đã nói rằng: "Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được một ý thức về cái "tôi" như thế quả là cứng cỏi, là đẹp vô cùng cũng như có được một ý thức lưu danh thiên cổ bằng sự cứu nước quả là cần thiết, là cao cả vô cùng". Câu hỏi "Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ" của tác giả chính là lời khẳng định về mối quan hệ giữa con người với muôn thuở, hỏi nhưng không phải hỏi. Tác giả có niềm tin vào bản thân mình, hơn nữa lại có niềm tin mạnh mẽ vào cộng đồng, vào dân tộc. Từng câu thơ của ông như xoáy sâu vào tâm can, kích thích ý thức trách nhiệm của con người, giục giã chúng ta phải hành động để thay đổi cuộc sống, thay đổi những điều bất công đang xảy ra trong xã hội.
Đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả nói đến một sự thật nhức nhối ở xã hội lúc bấy giờ:
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si
(Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài)
Ở đây nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá ở "non sông đã chết" khiến cho người đọc càng thêm đau lòng. Đương thời, nhiều nhà Nho cũng nói tới nỗi nhục, nỗi đau khi mất nước nhưng thực sự vẫn chưa có một ai làm cho nỗi đau ấy trở nên triệt để, trở nên thống thiết tới như vậy - tác giả đã mang sự sống chế của cá nhân gắn với sự vinh nhục của đất nước. Tiếp sau đó, nhà thơ lại cho người đọc thấy rằng khi non sông đã mất thì những sách vở của thánh hiền cũng chẳng rửa trôi được vết nhơ nô lệ:
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Ở câu thơ nguyên tác, tác giả đã mang tới cho người đọc một cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt hơn khi viết "Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si", tức là hiền thánh đã vắng thì đọc sách cũng uổng phí, cũng hoài công mà thôi. Thế nhưng chúng ta không hiểu câu thơ này theo ý nghĩa là tác giả phủ định đi sách của thánh hiền, mà chúng ta cần hiểu đó là tác giả đã hành đạo của thánh hiền một cách sáng suốt - một sự sáng suốt của một người làm cách mạng. Từ những quan niệm sống ở trong hai câu thơ này, tác giả đã quyết tâm đưa mình vào thế phải xuất dương để cứu nước. Hai câu thơ kết, tác giả đã thể hiện trọn vẹn chủ đề của bài thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi
(Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)
Câu thơ đã mang đến một hình ảnh thật đẹp, thật lãng mạn khi nhà thơ lấy không gian rộng lớn của biển Đông để so sánh với ý chí to lớn của người làm cách mạng "Muốn vượt biển Đông theo cánh gió". Bản dịch đã được xử lý rất tốt, các câu chữ đều làm nổi bật lên tinh thần của nguyên tác. Hai câu thơ kết đã hoà vào với nhau để tạo nên một bức tranh hùng vĩ lấy con người làm trung tâm. Con người trong bức tranh ấy được chắp một đôi cánh mạnh mẽ của khát vọng lớn lao để có thể bay ra khỏi thực tại tối tăm nghiệt ngã, để hoà vào giữa biển trời mênh mông. Bên dưới đôi cánh ấy là những đợt sóng bạc dâng cao, tung bọt lên trắng xoá như để tiếp thêm sức mạnh cho con người bay tới chân trời mới, bay đến nơi có ánh sáng để giải phóng dân tộc khỏi những tăm tối, mịt mù. Đây là một hình ảnh mang đậm chất sử thi, một hình ảnh thắp lên ngọn lửa của hy vọng cho một thế hệ mới, một thời đại mới. Cho dù ở con đường phía trước kia vẫn tăm tối, chỉ có vài tia sáng le lói nhưng người ra đi tìm đường cứu nước vẫn vững tin vào một tương lai tốt đẹp sau này.
Bài thơ "Xuất dương lưu biệt" đã khắc hoạ hình tượng của một người anh hùng ra đi tìm đường cứu nước với một tư thế hiên ngang, sánh ngang với vũ trụ. Người anh hùng ấy đã ý thức được một cách mạnh mẽ về cái tôi, luôn day dứt, lo lắng, bồn chồn trước sự tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Bài thơ được viết với một giọng thơ vừa sâu lắng vừa da diết, lại vừa sôi sục, mạnh mẽ với âm hưởng của những bản hùng ca. Ngoài ra, tác giả đã thổi hồn vào từng câu chữ, từng hình ảnh trong bài thơ bởi những nỗi niềm đau đớn, sự lạc quan cũng như sự hành động nhiệt tình. Bài thơ cũng là một sự thức tỉnh, một sự lay động tất cả mọi người, kêu gọi, thúc giục những người có ý chí lên đường để đi tìm đường cứu nước.
Qua bài thơ "Xuất dương lưu biệt", người đọc có thể thấy được chí làm trai của tác giả Phan Bội Châu. Chí làm trai ấy không chỉ có ý nghĩa ở thời đại đó mà còn có ý nghĩa đến mãi sau này. Đây chính là một bài học, một tư tưởng mà các thế hệ sau cần học tập để nâng cao ý chí trách nhiệm, dám chấp nhận khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ với đất nước, với dân tộc.
Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích, trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi.