Chủ thể đặc biệt của tội phạm là những chủ thể đòi hỏi phải có thêm những dấu hiệu khác ngoài những dấu hiệu của chủ thể chung.
Những dấu hiệu đặc biệt đó có thể là:
+ Dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn: Chủ thể của tội phạm đó phải là người có chức vụ, quyền hạn.
Ví dụ: Tội tham ô tài sản (Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015).
+ Dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc: Người phạm tội phải là người làm công việc đó.
Ví dụ: Tội vi phạm các quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015).
+ Dấu hiệu nghĩa vụ phải thực hiện: Người phạm tội phải là người có nghĩa vụ thực hiện một công việc mà không thực hiện.
Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015).
+ Dấu hiệu độ tuổi: Người thực hiện tội phạm phải là người có đủ độ tuổi nhất định.
Ví dụ: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015), chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ từ 18 tuổi trở lên.
+ Dấu hiệu giới tính: Người phạm tội phải trong một giới tính nhất định. Ví dụ: Tội giết hoặc vứt con mới đẻ (Điều 124 Bộ luật hình sự năm 2015)
+ Dấu hiệu quan hệ gia đình, họ hàng: Người phạm tội phải là trong gia đình hoặc có họ hàng.
Ví dụ: Tội loạn luân (Điều 184 Bộ luật hình sự năm 2015); Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, chưa mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 Bộ luật hình sự năm 2015).
Những dấu hiệu trên khi đã được quy định trong cấu thành tội phạm thì trở thành dấu hiệu bắt buộc trong việc định tội. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì người trực tiếp thực hiện tộiphạm với vai trò là người thực hành phải là người có đủ dấu hiệu chủ thể đặc biệt (người thực hành). Những người đồng phạm khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) không đòi hỏi phải có những dấu hiệu của chủ thể đặc biệt.