- 1. Top các mẫu viết bài phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay
- Bài mẫu 1: Phân tích toàn diện nội dung và nghệ thuật
- Bài mẫu 2: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều
- Bài mẫu 3: Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
- Bài mẫu 4: Phân tích giá trị nhân đạo
- Bài mẫu 4: Phân tích đầy đủ, chi tiết nhất
- 2. Dàn ý viết bài phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du
1. Top các mẫu viết bài phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay
Bài mẫu 1: Phân tích toàn diện nội dung và nghệ thuật
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn thơ tiêu biểu thể hiện rõ bi kịch và vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều trong Truyện Kiều. Sau khi bị lừa gạt và giam lỏng, Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối, phải đối diện với nỗi đau về thân phận và những dự cảm bất an về tương lai.
Sáu câu thơ đầu mở ra một không gian mênh mông, hoang vắng. Thiên nhiên rộng lớn với “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” càng làm nổi bật sự nhỏ bé, lạc lõng của con người. Thời gian “mây sớm đèn khuya” trôi qua lặp lại đơn điệu khiến nỗi buồn thêm kéo dài. Từ đó, tâm trạng bẽ bàng, tủi hổ của Kiều hiện lên rõ nét.
Tám câu thơ tiếp theo là nỗi nhớ thương sâu sắc. Kiều nhớ Kim Trọng với sự day dứt của người lỡ hẹn, rồi nhớ đến cha mẹ với tấm lòng hiếu thảo. Nỗi nhớ được sắp xếp theo quy luật tâm lý tự nhiên, thể hiện một tâm hồn giàu tình nghĩa, luôn nghĩ cho người khác.
Tám câu cuối là đỉnh cao nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Điệp ngữ “buồn trông” lặp lại nhiều lần tạo nên âm hưởng trầm buồn, da diết. Những hình ảnh như cánh buồm, hoa trôi, nội cỏ, tiếng sóng đều mang ý nghĩa biểu tượng cho thân phận và tâm trạng của Kiều. Nỗi buồn dần chuyển thành nỗi lo sợ trước tương lai đầy sóng gió.
Đoạn trích đã thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.
Bài mẫu 2: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều
“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là bức tranh tâm trạng đặc sắc, ghi lại những cung bậc cảm xúc tinh tế của Thúy Kiều trong hoàn cảnh cô đơn, bế tắc.
Trước hết là nỗi cô đơn tuyệt đối giữa không gian rộng lớn. Cảnh vật tưởng như đẹp nhưng lại lạnh lẽo, vô hồn. Kiều bị tách biệt khỏi cuộc sống, bị giam cầm cả về thể xác lẫn tinh thần.
Trong cô đơn, Kiều hướng về người thân. Nỗi nhớ Kim Trọng thể hiện sự thủy chung sâu sắc, còn nỗi nhớ cha mẹ lại thể hiện đức hiếu thảo. Dù ở hoàn cảnh nào, Kiều vẫn giữ trọn đạo nghĩa.
Đặc biệt, tâm trạng Kiều được đẩy lên cao ở tám câu cuối. Điệp ngữ “buồn trông” diễn tả nỗi buồn triền miên. Hình ảnh thiên nhiên không còn là cảnh vật đơn thuần mà trở thành tiếng nói của nội tâm. Nỗi buồn dần chuyển thành lo âu, sợ hãi.
Qua đó, ta thấy được một tâm hồn nhạy cảm, giàu tình cảm nhưng cũng đầy bất hạnh.
Bài mẫu 3: Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là minh chứng tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du.
Ngay từ những câu đầu, cảnh vật đã nhuốm màu tâm trạng. Không gian rộng lớn nhưng hoang vắng khiến nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc. Cảnh và tình hòa quyện, khó tách rời.
Đặc sắc nhất là tám câu thơ cuối với điệp ngữ “buồn trông”. Mỗi lần lặp lại là một cung bậc cảm xúc khác nhau. Hình ảnh cánh buồm gợi nỗi nhớ nhà, hoa trôi gợi thân phận nổi trôi, nội cỏ gợi sự tàn úa, còn tiếng sóng gợi nỗi sợ hãi.
Sự kết hợp giữa điệp ngữ, từ láy và hình ảnh ẩn dụ đã tạo nên hiệu quả biểu đạt mạnh mẽ. Cảnh vật không chỉ phản ánh mà còn góp phần làm nổi bật tâm trạng nhân vật.
Bài mẫu 4: Phân tích giá trị nhân đạo
Qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du đã thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc.
Nhà thơ cảm thương cho số phận bất hạnh của Thúy Kiều, một người con gái tài sắc nhưng bị xã hội vùi dập. Đồng thời, ông trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của nàng như lòng thủy chung, hiếu thảo và sự vị tha.
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả nỗi đau, Nguyễn Du còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật. Điều đó làm nên giá trị nhân văn bền vững của tác phẩm.
.jpg)
Bài mẫu 4: Phân tích đầy đủ, chi tiết nhất
Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Nguyễn Du đã đạt đến tình cao trong lịch sử với đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, miêu tả thành công nỗi cô đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm trong phần Gia biến và lưu lạc. Đoạn thơ dài 22 câu không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với số phận người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh mà còn thể hiện bút pháp đặc sắc về tự sự việc tả cảnh ngụ tình với những ngôn từ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi lòng và tâm trạng của Thúy Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Với nét bút tả cảnh ngụ tình Nguyễn Du đã miêu tả thành công tâm trạng của Thúy Kiều với những các từ khóa xuân đã cho thấy tình cảnh của Kiều lâm vào cảnh chim lồng cá chậu bị giam lỏng và khóa kín tuổi xuân của mình. Từ khóa xuân không phải nói tới những cô gái bị cấm cung mà chính là sự mỉa mai chua xót cho thân phận nàng Kiều. Kiều trơ trọi giữa thời gian mênh mông với không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương đôi đất khách quê người, cô đơn bị đày vào chốn lầu xanh.
Lầu Ngưng Bích vốn là một nơi có phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh hữu tình thơ mộng được thể hiện qua các từ ngữ non xa, trăng gần, cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm kia. Tuy nhiên từ xưa đến nay Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Trong tình cảnh bị giam cầm và tha hương cô đơn như thế, Kiều nhìn khung cảnh với con mắt buồn thảm vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn đất thì chỉ thấy cồn cát nhấp nhô phía bên là bụi hồng.
Ta có thể thấy lầu Ngưng Bích chỉ là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên giữa mênh mang trời nước. Trong cái không gian quẩn quanh mây sớm Đèn Khuya chính là một vòng tuần hoàn khép kín của thời gian tất cả như kìm hãm Tuổi Thanh Xuân của Kiều sự sống của Kiều đã bị những thế lực tàn ác của xã hội phong kiến bóc chết từ đó khắc sâu thêm nỗi buồn nỗi cô đơn khiến Kiều càng thấy bẽ bàng buồn tủi bởi không ai chia sẻ và nàng chỉ biết làm bạn với mây với đèn với cảnh vật hoang vu. Trong nỗi cô đơn tuyệt vọng ấy kiều cảm thấy xa cách hoang vắng, bị giam cầm cách biệt với nơi đất khách quê người.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Khi ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng. Đây là một nét bút đặc sắc độc đáo và phù hợp với tâm lý thể hiện lòng chung thủy của Thúy Kiều. Các từ ngữ tưởng, trông chờ trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều đã làm nổi bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng Kiều. Càng nhớ về lời thề đôi lứa lời hẹn ước năm nào lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề còn ở đây mà nay mỗi người một ngả khiến Thúy Kiều ân hận, xót xa giống như mình là một kẻ phụ tình chàng.
Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, lo âu cho dù mỗi người một phương nhưng tình cảm của nàng dành cho kim trọng là mãi mãi và không thể phai mờ. Càng nghĩ kều càng thấy lo lắng phải bật lên câu hỏi tu từ. Phải biết đến bao giờ nàng mới có thể rửa sạch được những ô uế của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng. Không chỉ nhớ người yêu, ở nơi lầu cao ấy nàng cũng nhớ về cha mẹ của mình:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Ngôn ngữ độc thoại kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng buồn của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ hôm mai, cách mấy nắng mưa diễn tả nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng. Kiều thương cho cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, ngày trông ngóng, nàng lo cho cha mẹ già yếu ở nhà không ai chăm sóc, phụng dưỡng. Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh cùng với điển tích Sơn Lai, gốc tử đã nói lên tâm trạng nhớ thương và thể hiện Kiều là một người con hiếu thảo.
Nàng lo sợ ở nơi quê hương mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại càng ngày càng già yếu nên nàng vô cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của một người con. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích. Phải lưu lạc tới nơi đất khách quê người chính bản thân Kiều mới là người đáng thương nhất, thế nhưng với tâm hồn và với những nét tính cách đẹp cao thượng của mình nàng luôn hy sinh bản thân mình, quên đi cảnh ngộ hiện tại của bản thân để lo lắng nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ, những người thân của Kiều. Nỗi nhớ đó của Kiều rất chân thực và có chiều sâu để từ đó ta có thể thấy đây là một người con hiếu thảo, một người tình chung thủy và một con người giàu lòng vị tha.
Tâm trạng buồn tủi của Kiều không chỉ còn ở trong lòng nữa mà đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài. Mỗi cảnh vật là một nét riêng và diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Khung cảnh mở ra cho chúng ta thấy được đây là một cảnh hoàng hôn cửa bể chiều hôm gợi cho chúng ta hình ảnh những tia nắng cuối ngày, phản chiếu trên mặt biển xanh khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm. Có cái gì đó tha thiết và nỗi nhớ mong, Kiều dường như tiếc nuối những ngày tháng trước kia. Các từ ngữ thấp thoáng, xa xa diễn tả sự lẻ loi, đơn độc giống như tình cảnh của Kiều bây giờ.
Một mình nơi xứ người bơ vơ nơi lầu ngưng Bích, Kiều chỉ biết nhớ về quê hương, nhớ về cha mẹ, mong chờ một con thuyền để có thể cứu nàng. Nhưng chiếc thuyền ấy chỉ thấp thoáng ở phía xa xa, lúc mờ lúc hiện Thuyền ai lênh đênh mất hút phía chân trời xa giống như cuộc đời Kiều lênh đênh chẳng biết chơi về đâu. Chẳng biết bao giờ mới có thể trở về nhà báo hiếu cho cha mẹ
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Cánh hoa mỏng manh dập dìu trong dòng nước bé nhỏ không chống chọi được với sức của mọi nước giống như chính thân phận Kiều trong xã hội cũ. Tuy là một người có đức có tài, có nét đẹp nhưng chính cường quyền áp bức đã vùi dập nàng, vùi dập tài năng của nàng. Thân phận Kiều giờ đây lạc lõng, lẻ loi trôi theo dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. Nhìn cánh hoa vùi dập nàng Kiều lại nhớ tới Kim Trọng, càng buồn tủi và xót xa cho thân phận của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Trái ngược với cái tên của lầu màu xanh qua con mắt của Kiều trở nên thật sầu thảm với từ láy rầu rầu gợi lên hình ảnh của một bãi cỏ tàn úa xơ xác. Tuổi thanh xuân tươi đẹp của Kiều với một tài sắc vẹn toàn đáng lẽ nàng phải có một cuộc sống đầy đủ, phải có một cuộc đời hạnh phúc thế nhưng Tuổi Thanh Xuân ấy sẽ phai tàn và vô vị như màu xanh héo úa kia. Màu xanh vốn là màu của hy vọng nhưng nay đã tàn úa giống như niềm tin của Thúy Kiều đang dần cạn với nỗi xót xa ngày càng dâng cao trong Thúy Kiều.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm, trong cảnh gió cuốn mặt dềnh giống như bão tố phong ba đang chờ đợi Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng không biết khi nào tai họa sẽ ập đến, giống như tiếng sóng ở ngoài xa, tiếng sóng ầm ầm chính là báo hiệu một tương lai đầy sóng gió khiến Kiều sợ hãi.
Với điệp ngữ Buồn trông đặt ở bốn câu đầu trong bài thơ giống như tiếng thở dài cùng với nhịp thơ trầm trầm và những thanh bằng đã nhấn mạnh một nỗi buồn đang ngày càng dâng lên trong tâm trạng của Thúy Kiều, cùng với cảnh vật đang càng lúc càng mênh mang những từ láy xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm như những con sóng đang trào dâng trong tâm hồn của Kiều.
Đoạn thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong truyện Kiều cũng như trong văn học trung đại Việt Nam. Qua đoạn thơ chúng ta có thể hiểu biết thêm về tính cách của Kiều. Đó là một người chung thủy, một người con hiếu thảo và là một con người của tấm lòng vị tha. Đồng thời ta cảm nhận được sự khắc nghiệt của xã hội phong kiến, đã đẩy những con người đáng thương như thế kia và hoàn cảnh éo le.
Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Thúy Kiều và chứng tỏ được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du. Chính sự bao dung, đồng cảm sẻ chia của Nguyễn Du đã đi vào tâm tưởng bằng thế hệ.
2. Dàn ý viết bài phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du
Mở bài
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất trong Truyện Kiều, thể hiện sâu sắc bi kịch và vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều khi rơi vào cảnh lưu lạc. Sau khi bị lừa gạt và giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích, Kiều phải đối diện với nỗi cô đơn, tủi nhục và những dự cảm đầy bất an về tương lai. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa tinh tế diễn biến tâm trạng của nhân vật, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc và tài năng nghệ thuật bậc thầy của mình.
Thân bài
Trước hết, sáu câu thơ đầu đã tái hiện hoàn cảnh cô đơn, bẽ bàng của Thúy Kiều nơi lầu Ngưng Bích. Không gian hiện lên rộng lớn, hoang vắng với “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng”, tất cả đều gợi cảm giác mênh mông, rợn ngợp. Giữa khung cảnh ấy, Kiều trở nên nhỏ bé, lạc lõng, bị tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Thời gian trôi qua trong sự lặp lại đơn điệu “mây sớm đèn khuya”, càng làm nổi bật nỗi buồn tẻ, bẽ bàng của một người con gái tài sắc nhưng bị đẩy vào cảnh ngộ éo le. Tâm trạng ấy cho thấy sự giằng xé nội tâm khi Kiều vừa ý thức được thân phận vừa đau đớn trước thực tại.
Tiếp đến, tám câu thơ giữa diễn tả nỗi nhớ thương sâu nặng của Kiều dành cho người thân. Trước hết là nỗi nhớ Kim Trọng với sự day dứt, ân hận của người lỡ hẹn. Kiều nhớ về lời thề nguyền, nhớ người yêu vẫn ngày đêm mong đợi mà không hay biết biến cố đã xảy ra. Nỗi nhớ ấy không chỉ là tình yêu mà còn là nỗi đau của sự phụ tình bất đắc dĩ. Sau đó là nỗi nhớ cha mẹ với tấm lòng hiếu thảo tha thiết. Kiều xót xa khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già yếu mà không có mình phụng dưỡng. Qua đó, nhân cách cao đẹp của Kiều được bộc lộ rõ nét: luôn nghĩ cho người khác, giàu tình nghĩa và đức hiếu thảo.
Cuối cùng, tám câu thơ kết là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, thể hiện tâm trạng lo âu, sợ hãi của Kiều qua điệp ngữ “buồn trông”. Mỗi lần “buồn trông” là một lần tâm trạng được đẩy lên cao hơn: từ nỗi buồn xa xứ với hình ảnh cánh buồm thấp thoáng, đến thân phận lênh đênh qua hình ảnh hoa trôi, rồi sự chán chường qua nội cỏ rầu rầu, và cuối cùng là nỗi kinh hoàng trước tiếng sóng ầm ầm. Hệ thống hình ảnh giàu tính ẩn dụ cùng nhịp điệu dồn dập đã khắc họa rõ nét sự chuyển biến từ nỗi buồn man mác đến nỗi lo sợ hãi hùng về tương lai. Qua đó, ta thấy được sự hòa quyện giữa cảnh và tình, giữa thiên nhiên và nội tâm nhân vật.
Kết bài
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” không chỉ phản ánh chân thực số phận bi kịch của Thúy Kiều mà còn làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn giàu tình cảm, thủy chung và hiếu thảo của nàng. Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình điêu luyện và khả năng miêu tả nội tâm tinh tế, Nguyễn Du đã để lại một đoạn thơ giàu giá trị nhân đạo và nghệ thuật. Tác phẩm góp phần khơi dậy trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội xưa.
