1. Top 3 mẫu phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân chọn lọc hay nhất

Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân - Mẫu số 1

Nói về quê hương, Raxun Gamzatov đã cho rằng rằng: "Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người". Điều đó muốn đưa ra một chân lý rằng, con người dù đi đến đâu cũng không thể quên được nguồn cội, quê hương. Đặc biệt là quê hương trong tâm khảm của người nông dân đã gắn bó máu thiệt với từng khóm tre, bờ ao, giếng nước, mái đình. Cùng với đề tài viết về tình yêu của người nông dân đối với quê hương, Kim Lân hướng tới khám phá cái đẹp khỏe khoắn, đôn hậu, chất phác trong tâm hồn những người nông dân qua tác phẩm truyện ngắn mang tên "Làng". Nói như cách nhận xét, bình phẩm của Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn của làng quê, của những người nông dân một lòng một dạ đi với đất, với người, với sự thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống vùng thôn quê. 

Tác phẩm ra đời năm 1948, được lấy bối cảnh từ cuộc tản cư trong thời kỳ kháng chiến của nhân dân Bắc Bộ, Kim Lân xây dựng nhân vật ông Hai - người dân làng Chợ Dầu theo kháng chiến tản cư đến vùng tạm trú. Và trong lúc tản cư, biết bao điều suy tư, trăn trở về ngôi làng thân yêu của ông Hai đã được Kim Lân thể hiện một cách trọn vẹn, đầy đủ nhất. Cái hay của câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc xây dựng nhân vật thành công mà còn xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, bộc lộ được sự sâu sắc tình yêu làng, tình yêu nước của một người nông dân.

Ông Hai là người rất yêu làng của mình. Tình yêu của ông đã ăn sâu vào nhận thức, vào máu thịt để dù có đi đến đâu, đi tản cư đến nơi khác nhưng ông vẫn đau đáu nhớ và hướng về nơi có cái tên quen thuộc là Chợ Dầu. Yêu làng, ông yêu tất cả những thức thuộc về nơi ấy, yêu trong một niềm tự hào mãnh liệt vì mình là người dân làng Chợ Dầu. Ấy vậy mà, một hôn ông Hai chính tai nghe được tin làng theo giặc. Xét về mạt hiện thực, chi tiết này là rất hợp lý. Bởi lẽ, ai cũng biết trong những năm kháng chiến, để thực hiện chiêu bài tách quân ra khỏi dân, ví dân với quân như cá với nước, thực dân Pháp đã dùng mọi cách bắt bớ, đe dọa và lôi kéo nhân dân đứng về phía chúng. Tuy vậy, người nông dân đã bén rễ nội bộ rồi đốt làng, phá nhà người dân.

Trong tình huống này đã gây ra những mâu thuẫn giằng xé trong tâm trí ông lão đáng thương và đáng trọng ấy - tạo nên nút thắt cho câu chuyện. Chính bởi vậy mà tạo ra những điều kiện để thể hiện, bộc lỗ rõ tâm trạng và phẩm chất, tính cách của nhân vật thêm phần chân thực và sâu sắc nhất. Từ đó, góp phần giải quyết chủ đề chủ đề tác phẩm, đó là phản ánh và ca ngợi tình yêu làng, yêu nước chân thành, giản dị của những người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng thời cũng góp phần vào diễn biến và mạch phát triển câu chuyện. 

Làng quê đối với người nông dân không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi con người mà còn là nơi dù mỗi cá nhân có đi đến đâu cũng mong ngóng mỏi màn ngày để trở về với gia đình, người thân, bạn bè, láng giềng. Ở đó, bao nhiêu thế hệ đã được sinh ra và lớn lên, trưởng thành. Bao nhiêu cuộc đời đã hóa thành câu chuyện truyền tai nhau để viết nên những trang sử rất sống động. Người nông dân cũng vậy, họ bắt đầu tình yêu đất nước bằng tình yêu từ những thứ nhỏ bé, đơn sơ, thân thuộc xung quanh họ như từng cây cầu, mái rạ, yêu con đường đến trường, đình làng, bến nước. Thế đấy, tình yêu làng của ông Hai trước Cách mạng giản dị như tình yêu của một đứa con xa nhớ về người mẹ của mình, một tình yêu tôn sùng, có niềm tự hào xen lẫn có chút hồn nhiên. Mỗi khi kể về làng, ông khoe về cái sinh phần sừng sững ở cuối làng của viên tổng đốc làng ông, cho dù bản thân mình và nhiều người khác trong lòng đã phải khốn khổ vì cái sinh phần ấy.

Tuy vậy, tình yêu làng của ông Hai có sự chuyển biến mạnh mẽ kể từ sau Cách mạng. Khi ấy, làng Chợ Dầu trở thành làng kháng chiến. Ông Hai khoe làng ông có "những hố, những ụ, những giao thông hào", "có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy". Quê hương được giải phóng, thoát khỏi ách cường hào phong kiến và bè lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Ông Hai no nức khi kể về những đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài...lại còn có cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân. Như vậy, chúng ta có thể thấy được rõ ràng tình yêu làng của ông đã gắn với niềm vui của con người hòa vào cuộc sống kháng chiến dân tộc.

Vì quá yêu làng, nên ông Hai không hề muốn đi tản cư đến nơi khác. Chỉ vì hoàn cảnh bất đắc dĩ mà ông buộc phải xa làng, xa anh em, đồng chí. Nỗi khổ tâm này cũng nhiều lần khiến ông đau đáu về làng. Ấy vậy nên ông Hai cứ muốn nghe tin tức về làng, không chỉ riêng làng mình mà ông còn khao khát được nghe những tin thắng trận từ mọi miền đất nước. Như thế mới thấy được sự phát triển mạnh mẽ trong tình cảm và nhận thức của ông Hai nói riêng và người nông dân nói chung. Giờ đây, không những ông Hai yêu làng mà còn yêu cách mạng, yêu kháng chiến nữa. Từ miễn cưỡng thực hiện tản cư, đến yêu mến rồi nhiệt tình ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Câu chuyện khoe làng cũng thế. Từ chuyện khoe làng, ông chuyển sang chuyện kháng chiến, chuyện đánh Tây. Tình yêu làng trong ông vẫn lớn, luôn được nhen nhóm nhưng giờ đây nó đã hòa quyện trong tình yêu cách mạng, yêu kháng chiến, tình yêu nước. Tình cảm cá nhân ông Hai đã hòa hợp với tình yêu tổ quốc. Yêu làng cũng là yêu nước. Tản cư nghĩa là ủng hộ cách mạng, nghĩa là ủng hộ sự nghiệp giải phóng đất nước mà ủy ban kháng hiến đã đề ra. 

Để thấy rõ tình yêu làng của ông Hai, nhà văn đã đặc biệt miêu tả sự thay đổi trong nội tâm lẫn hành động trước và sau khi nghe được tin làng Chợ Dầu theo Tây. Trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông luôn nhớ mòng làng da diết, ước mơ lớn lao nhất đời ông có lẽ là được trở về làng, được trẻ lại, được tham gia kháng chiến. Như thế để cho thấy được rằng ông Hai là người rất có trách nhiệm với cuộc kháng chiến và tình cảm gắn bó máu thịt với quê hương. Công việc thường xuyên, đều đặn của ông là đến phòng thông tin để nghe ngóng tin tức. Dù không đọc giỏi nhưng ông vẫn vờ xem để bắt được ai đó có giọng đọc to mà nghe. "Một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kỳ lên tháp Rùa" cũng đủ để làm ông tụ hào quá đỗi - "Đấy, cứ kêu chúng nó trẻ con mãi đi, liệu đã bằng chúng nó chưa?" "Một anh trung đội trường sau khí giết được bảy tên giặc đã tự sắt bằng một quả lựu đạn cuối cùng, Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người đi mua hàng đã bắt sống một tên quan hai bốt Thao ngay giữa chợ". Những cái tin ấy càng làm đong đầy niềm tin của ông về ngày tất thắng của Cách mạng. "Chỗ kia phá đổ được một xe tăng và một xe díp". "Cứ thế, chỗ này giết  một tí, tích tiểu thành đại làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm". Ruột gan ông lão cứ múa cả lên,vui quá! Ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin, rẽ vào quán dặn vợ mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ. Sự chất phác và tình yêu ghét rạch ròi của người nông dân chân chất còn thể hiện ở chi tiết ông mong trời nắn nóng để "bỏ mẹ chúng nó".

Nhà văn thật tài tình khi đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để bao nhiêu tâm sự, tình cảm cứ thể mà tuôn dào dạt. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ miệng những người từ dưới ấy lên, ông Hai sững sờ xấu hổ uất ức: "cổ ông lãn nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được". Khó mà có thể tin được điều ấy khi mà lòng ông còn mới ngập tràn những niềm vui thắng trận. Cảm xúc đột ngột tụt dốc, ông Hai cố trấn an bản thân nhưng rồi cũng phải chịu thua khi lời kể của những người tản cư khá rành rọt, chi tiết. Cảm giác hụt hẫng của ông như vừa tự mình đánh mất một điều gì đó lớn lao lắm. Phải chăng tình yêu làng đã quay lưng lại với ông để khiến ông nghẹn ngào, tủi hổ. Cảm giác của một tình yêu đã bị phụ rẫy, một niềm tin không hề lay động trước tin dữ ấy nhưng ông không thể đánh lừa được lòng mình. Cứ thế, ông Hai "cúi gằm mặt mà đi". Nỗi xấu hổ bủa vây lấy ông, nó xui bước bước chân ông không dam đi con đường nào khác là một mạch về nhà. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con "nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con lang Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu....ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên". Từ nỗi hổ thẹn ông thấy nhục. Nhục vì mình mang bộ mặt của dân làng bán nước. Cả con mình cũng sẽ mang nỗi nhục ấy suốt đời. Nói một cách công bằng, dù làng chợ Dầu theo Tây thì cũng đâu phải lỗi của ông, lại càng không phải lỗi của các con ông. Dù biết là vậy nhưng ông Hai vẫn cảm thấy đau khổ, cảm giác tội lỗi như bản thân mình đã gây ra vậy. Điều đó cho thấy ông Gia đã tự nguyện gắn bó máu thịt với làng, lành là sinh mệnh, tình yêu làng là lẽ sống. Người nông dân không trực tiếp tham gia kháng chiến, chiến đấu nhưng vẫn một mực thủy chung với cách mạng, sự gắn bó bằng lòng tự trọng, không cần ai phải xua đuổi hay miệt thị, bản thân họ cũng tự giày vò chính mình "dẫu vì chính sách cụ Hồ, người ta chẳng đuổi đi nữa thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu".

Kiểm điểm, liệt kê từng gương mặt, từng tính cách của mỗi người trong làng, ông Hai khó mà tin được rằng  những anh em, đồng chí của mình lại có thể làm những việc xấu xa như vậy. Tuy nhiên, không có lửa thì làm sao có khói. Như ông nghĩ "ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì?". Với bản tính là một người thích đi và thường xuyên đi như ông mà suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. "Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến cá chuyện ấy. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam - nhông... là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi! "

Trong gian nhà nhỏ giờ lại càng tăng thêm bầu không khí ngột ngạt vì những ý nghĩ rối tung trong đầu ông. Tiếng thở của ba đứa trẻ trong ánh đen vàng hiu như chính tương lại của gia đình ông Hai, bế tắc và tuyệt vọng. Ông không biết đi đâu, về làng thì không được, vì về làng lúc này đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì cũng không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thì biết đi đâu, bởi ai người ta chứa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn. Quê hương và Tổ quốc bên nào nặng hơn? Đó có thể nói rằng đây không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc sống, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đồi nô lệ. Cuối cùng, ông đã đưa ra quyết định, đó là: "Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mắt rồi thì phải thù". Như vậy, tình yêu làng dẫn có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đông, của cả dân tộc.

Để vơi đi những tâm tư đè nặng và cũng để giải bày được tấc lòng thủy chung với Cách mạng, ông Hai đã có cuộc đối thoại, trò chuyện với đứa con út. Tuy bên ngoài là cuộc trò chuyện nhưng thực chất là cuộc độc thoại đầy xúc động. Một đứa trẻ lên ba không thể nào tự nói lên những điều như thế. Phải có một người cha, người bố như ông Hai - một người cha không chỉ truyền giọng điệu mình cho con tập nói mà còn là người cha truyền cho con tình yêu nước, tình yêu làng sâu đậm trong trái tim hồn nhiên, nhỏ bé: "Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!". Đứa con gái nói cũng chính là nói hộ, nói thay tiếng lòng ông Hai. Dù có thế nào, ông vẫn một mực chung thủy, gắn bó với cách mạng, với cụ Hồ. Ở ông là một niềm tin sắt đá -  niềm tin ấy đã phần nào giúp ông có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn này. Do đó, chỉ có đứng trước nghịch cảnh, đối diện nỗi đau mới thấy tấm lòng người nông dân đối với cách mạng, đối với kháng chiến không bao giơ thay đổi, dù phải đau khổ tột cung nhưng nhất định vẫn giữ trọn vẹn lời thề.

May mắn cho ông Hai và cũng nhẹ nhõm cho cả người đọc khi nghe được tin lành chợ Dầu cải chính. Nối đau khổ của ông như được giải tỏa, bao niềm vui như nước lũ tràn về. Ông Hai cứ như tre ra "mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy", ông hai có khác nào được hồi sinh. Ông "bô bô" khoe với mọi ngươi về cái tin làng ông bị đốt nhẵn, nhà ông bị đốt nhẵn. Nội dung lời khoe của ông có vẻ vô lý, bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lý ấy lại rất dễ hiểu: sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tính thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của người nông dân. Họ rất yêu làng. Nhưng họ cũng hiểu được rằng một khi nước mất nhà tan, cái làng cái nhà còn hay mất không quan trọng bằng nước mất hay còn. Chỉ cần còn tấm lòng con người theo cách mạng, còn kháng chiến thì còn nhà, còn làng. Vì Tổ quốc, vì đất nước họ sẵn sàng hy sinh tất cả dù đó là tài sản hay cả tính mạng của mình. Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến. Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩa tình cảm việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất, hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tính thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

Tóm tại, tác phẩm Làng của Kim Lân nổi bật với tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách, cốt truyện chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật, kết hợp với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Ngôn ngữ đặc sắc, sinh động mang đậm chất khẩu ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người nông dân. Truyện thể hiện chân thực, sinh động tành cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai. Đồng thời giúp chúng ta hiểu, yêu mến và khâm phục biết nhường nào những người nông dân giản dị, mộc mạc mà lại có một tình yêu nước vô cùng tha thiết, cao cả. 

 

Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân - Mẫu số 2

Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam, gắn bó bền bỉ với đề tài nông thôn và người nông dân. Các sáng tác của ông không cầu kỳ về cốt truyện nhưng giàu chiều sâu nhân văn, đặc biệt thành công trong việc khám phá đời sống tâm lí của những con người bình dị. Truyện ngắn Làng, ra đời năm 1948, là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó Kim Lân đã khắc họa cảm động hình ảnh người nông dân kháng chiến với tình yêu làng quê tha thiết gắn liền với lòng yêu nước sâu nặng.

Nhân vật trung tâm của truyện là ông Hai – một người nông dân phải đi tản cư trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Ở ông Hai, trước hết nổi bật là tình yêu làng Chợ Dầu vô cùng sâu sắc. Ông yêu làng bằng một tình cảm tự nhiên, hồn hậu và luôn tự hào về quê hương mình. Ở nơi tản cư, ông thích khoe làng, khoe những con đường, những hầm hào, ụ chiến đấu, phòng thông tin tuyên truyền. Điều đáng chú ý là niềm tự hào ấy không còn dừng lại ở vẻ giàu có, sung túc như trước Cách mạng, mà đã chuyển sang niềm tự hào về tinh thần kháng chiến của làng. Qua đó có thể thấy tình yêu làng của ông Hai đã được nâng lên, hòa quyện với tình yêu nước và tinh thần cách mạng.

Tình huống truyện đặc sắc được Kim Lân xây dựng khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Đây là một tin đồn thất thiệt nhưng lại có sức công phá dữ dội đối với tâm hồn người nông dân vốn luôn tự hào về làng quê mình. Khi nghe tin dữ, ông Hai rơi vào trạng thái sững sờ, đau đớn và tủi nhục. Cảm giác “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân” cho thấy cú sốc tinh thần quá lớn. Ông xấu hổ, cúi gằm mặt mà đi, không dám đối diện với mọi người. Nỗi đau ấy không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là nỗi nhục chung, bởi nếu làng theo giặc thì đó là sự phản bội đối với kháng chiến, đối với đất nước.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày ông Hai sống trong dằn vặt, ám ảnh và bế tắc. Ông không dám ra ngoài, chỉ quanh quẩn trong nhà, lo lắng cho tương lai của các con, sợ chúng bị khinh rẻ vì là con của “làng Việt gian”. Tình yêu làng sâu nặng khiến ông đau đớn, nhưng lòng trung thành với kháng chiến lại không cho phép ông chấp nhận sự phản bội. Cuộc đấu tranh nội tâm ấy được đẩy lên cao trào khi ông tự nhủ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Đây là lời tự vấn đầy đau xót nhưng cũng rất dứt khoát, thể hiện sự lựa chọn rõ ràng của người nông dân: đặt lợi ích của đất nước, của cách mạng lên trên tình cảm làng xóm truyền thống. Qua đó, Kim Lân đã khắc họa thành công sự giác ngộ cách mạng của người nông dân trong thời đại mới.

Niềm vui vỡ òa đến với ông Hai khi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Gánh nặng tâm lí được trút bỏ, ông trở nên vui vẻ, rạng rỡ, hồ hởi như sống lại. Chi tiết ông đi khoe việc nhà mình bị giặc đốt nhẵn là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Sự mất mát lớn về tài sản lại trở thành niềm tự hào, bởi nó chứng minh làng ông vẫn kiên cường kháng chiến, không phản bội Tổ quốc. Qua chi tiết ấy, tình yêu làng và tình yêu nước trong ông Hai đã hoàn toàn thống nhất, hòa làm một.

Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, truyện ngắn Làng còn thành công ở phương diện nghệ thuật. Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực, đặc biệt là việc sử dụng độc thoại nội tâm, giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc những giằng xé trong tâm hồn ông Hai. Ngôn ngữ truyện giản dị, gần gũi, đậm chất khẩu ngữ nông thôn, góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật và không khí đời sống kháng chiến.

Tóm lại, truyện ngắn Làng của Kim Lân là một tác phẩm xuất sắc viết về người nông dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã làm sáng tỏ vẻ đẹp của tình yêu làng quê gắn liền với lòng yêu nước, khẳng định sức mạnh tinh thần to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Đây chính là giá trị bền vững khiến Làng luôn có vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn và trong lòng người đọc.

 

Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân - Mẫu số 3

Kim Lân là nhà văn gắn bó sâu sắc với đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường không có cốt truyện phức tạp nhưng giàu giá trị nhân văn, đặc biệt thành công trong việc khắc họa tâm lí con người. Truyện ngắn Làng, sáng tác năm 1948, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn người nông dân trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhân vật trung tâm của truyện là ông Hai, một người nông dân phải đi tản cư nhưng luôn đau đáu hướng về làng Chợ Dầu. Ở ông Hai, tình yêu làng được thể hiện một cách tự nhiên, chân thành và sâu sắc. Ông thường xuyên khoe về làng mình, khoe những công việc đào hào, đắp ụ, xây dựng phòng thông tin tuyên truyền. Niềm tự hào ấy không còn mang màu sắc cá nhân hay vật chất mà đã gắn chặt với tinh thần kháng chiến. Điều đó cho thấy tình yêu làng của ông Hai đã hòa nhập với tình yêu nước, phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức của người nông dân sau Cách mạng.

Tình huống truyện được đẩy lên cao trào khi ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Đây là một tin đồn thất thiệt nhưng lại tạo ra xung đột tâm lí sâu sắc. Trước tin dữ, ông Hai sững sờ, đau đớn, xấu hổ đến mức không dám nhìn mặt ai. Về nhà, ông sống trong tâm trạng dằn vặt, tủi nhục, thương con và lo sợ bị người đời khinh rẻ. Cuộc đấu tranh nội tâm diễn ra gay gắt khi ông phải lựa chọn giữa tình yêu làng và lòng trung thành với kháng chiến. Cuối cùng, ông đi đến quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Quyết định ấy cho thấy người nông dân đã đặt lợi ích của đất nước lên trên tình cảm làng xóm truyền thống, thể hiện sự giác ngộ cách mạng sâu sắc.

Niềm vui lớn lao đến với ông Hai khi tin làng theo giặc được cải chính. Tâm trạng u ám, nặng nề trước đó nhanh chóng được thay thế bằng niềm vui, sự phấn chấn và tự hào. Chi tiết ông đi khoe việc nhà mình bị giặc đốt nhẵn là một chi tiết giàu ý nghĩa. Mất mát về vật chất không khiến ông đau khổ, trái lại trở thành minh chứng cho sự trong sạch, kiên cường của làng quê mình. Qua đó, tình yêu làng và tình yêu nước trong ông Hai đã hoàn toàn thống nhất.

Không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc, truyện ngắn Làng còn thành công về mặt nghệ thuật. Kim Lân đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật được thể hiện tinh tế qua hành động, lời nói và suy nghĩ, đặc biệt là việc sử dụng độc thoại nội tâm. Ngôn ngữ truyện giản dị, gần gũi, mang đậm chất khẩu ngữ nông thôn, góp phần làm cho nhân vật trở nên chân thực và sinh động.

Qua truyện ngắn Làng, Kim Lân đã ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến: yêu làng, yêu nước, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của dân tộc. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực lịch sử mà còn để lại giá trị nhân văn bền vững, xứng đáng là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.

 

 

2. Dàn ý phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân

A. Mở bài
Giới thiệu nhà văn Kim Lân là cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam, gắn bó sâu sắc với đề tài nông thôn và người nông dân.
Giới thiệu truyện ngắn Làng, sáng tác trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, phản ánh chân thực đời sống và tâm lí người nông dân đi tản cư.
Nêu vấn đề nghị luận: Truyện ngắn Làng đã khắc họa thành công hình tượng người nông dân kháng chiến qua nhân vật ông Hai, làm nổi bật sự thống nhất giữa tình yêu làng quê và lòng yêu nước.

B. Thân bài

Khái quát cốt truyện và tình huống truyện đặc sắc
Truyện xoay quanh ông Hai, một người nông dân tha thiết yêu làng Chợ Dầu, phải đi tản cư trong thời kì kháng chiến.
Tình huống truyện được xây dựng quanh tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, tạo nên nút thắt kịch tính và đặt nhân vật vào hoàn cảnh thử thách nghiệt ngã.
Ý nghĩa của tình huống truyện: làm bộc lộ sâu sắc diễn biến tâm lí, tư tưởng và phẩm chất của người nông dân trong thời đại mới.

Phân tích nhân vật ông Hai qua diễn biến tâm lí

a. Tình yêu làng, yêu kháng chiến trước khi nghe tin dữ
Ông Hai yêu làng một cách tự nhiên, sâu nặng, luôn tự hào và thích khoe làng.
Niềm tự hào ấy đã có sự chuyển biến: ông khoe làng không phải vì giàu đẹp mà vì tinh thần kháng chiến, vì làng tham gia cách mạng.
Qua đó cho thấy tình yêu làng của ông Hai đã gắn liền với tình yêu nước, yêu kháng chiến.

b. Nỗi đau và xung đột nội tâm khi nghe tin làng theo giặc
Khi nghe tin dữ, ông Hai rơi vào trạng thái sững sờ, đau đớn, tủi nhục và xấu hổ.
Ông sống trong ám ảnh, day dứt, thương con, lo sợ bị người đời khinh rẻ.
Cuộc đấu tranh nội tâm diễn ra gay gắt giữa tình yêu làng và lòng trung thành với kháng chiến.
Ông đi đến lựa chọn dứt khoát: đặt lợi ích của đất nước, của cách mạng lên trên tình cảm làng xóm truyền thống, thể hiện rõ ở suy nghĩ “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

c. Niềm vui vỡ òa khi tin được cải chính
Khi tin đồn được cải chính, ông Hai như được hồi sinh, vui mừng, phấn chấn trở lại.
Chi tiết ông đi khoe việc nhà mình bị giặc đốt cho thấy niềm vui gắn liền với danh dự của làng, của kháng chiến.
Qua đó khẳng định tình yêu làng của ông Hai đã hoàn toàn thống nhất với tình yêu nước.

Nghệ thuật tiêu biểu của truyện
Xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính.
Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực, đặc biệt là nghệ thuật độc thoại nội tâm.
Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, mang đậm màu sắc khẩu ngữ nông thôn, làm nổi bật tính cách nhân vật.

C. Kết bài
Khẳng định truyện ngắn Làng là tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân viết về người nông dân trong kháng chiến.
Tác phẩm làm sáng tỏ vẻ đẹp tâm hồn người nông dân Việt Nam: yêu làng, yêu nước, giàu tinh thần trách nhiệm với dân tộc.
Nêu ý nghĩa lâu bền của truyện trong chương trình Ngữ văn và trong việc bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.