Bài Phân tích nhân vật An Dương Vương chọn lọc hay nhất

Trong nền văn học Việt Nam, nếu là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của buổi sơ khai, thì văn học dân gian chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của người Việt. Một trong những thể loại được nhiều người quan tâm và có ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta là truyền thuyết. Câu chuyện lịch sử để lại cho người đọc nhiều suy nghĩ sâu sắc hơn cả không chỉ về công cuộc dựng giữ nước mà còn về nhiều giá trị nhân văn khác không thể không kể đến truyền thuyết “An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy”. Nhân vật An Dương Vương trong tác phẩm là nhân vật chủ chốt để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Ông vừa là vị vua anh minh, sáng suốt nhưng do một phút chủ quan đã dẫn đến thảm cảnh nước mất nhà tan. Số phận bi thảm của nhân vật để lại bài học sâu sắc cho các thế hệ sau.

An Dương Vương là vị vua anh minh, sáng suốt và có tầm nhìn xa trông rộng. Đây là nhân vật được xây dựng dựa trên nhân vật lịch sử có thật: vua Hùng Vương thứ hai. Sau khi vua Hùng Vương thứ nhất lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên thì truyền ngôi cho Thục Phán An Dương Vương. An Dương Vương là người lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang.

An Dương Vương nối nghiệp các vua Hùng dời đô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh về đồng bằng Cổ Loa để phát triển kinh tế, văn hóa giao thương. Quá trình dời đô phản ánh sự lớn mạnh của Nhà nước Âu Lạc, đồng thời phản ánh trí tuệ và bản lĩnh của An Dương Vương.

Quá trình dựng nước luôn gắn liền với quá trình giữ nước nên ngay khi về Cổ Loa, vua An Dương Vương đã cho xây dựng thành lũy để chống giặc ngoại xâm. An Dương Vương chuẩn bị nhân tạo bảo vệ chín tòa thành. Nhưng ngày xây xong thì đêm đổ xuống mãi không thể xong được, nên nhà vua bèn “lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần”. Chi tiết một cụ già từ phương Đông báo sẽ có người giúp đỡ, và sự giúp đỡ của Rùa Vàng - sứ Thanh Giang đã khẳng định đúng bản chất của việc xây dựng Loa Thành. Với sự giúp đỡ của rùa vàng, chẳng bao lâu sau, 9 tòa tháp của tòa thành đã được hoàn thành, tạo thành một tòa thành vững chắc để bảo vệ vùng đất. Hình ảnh Loa Thành “rộng hơn ngàn thước, xoắn như hình trôn ốc” thể hiện tinh thần cảnh giác, ý chí bảo vệ đất nước và quyết tâm cao đánh đuổi giặc ngoại xâm của nhà vua và toàn dân Âu Lạc.

Không những thế, vua An Dương Vương còn là người có tầm nhìn xa trông rộng. Khi xây thành xong, ông bày tỏ nỗi lòng với Rùa Vàng: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay có giặc bên ngoài, làm sao đánh nổi?” Điều trăn trở ấy thể hiện nỗi lo thường trực của đất nước thường xuyên có giặc ngoại xâm. Được ban cho móng vuốt của Rùa Vàng, An Dương Vương đã chế tạo ngay một chiếc nỏ thần, thể hiện quyết tâm chống quân xâm lược của vua tôi Âu Lạc. Qua sự chuẩn bị này, vua tôi An Dương Vương đã đại thắng, đánh tan quân Triệu Đà xâm lược, chúng thua nhiều, “về Trâu Sơn đắp lũy, không dám đối chiến, bèn xin hòa". Đoạn kể trong truyền thuyết được thêm thắt càng tình tiết hư cấu và tưởng tượng nhưng đã khẳng định một sự thật không thể chối cãi đó là công lao và vai trò to lớn của An Dương Vương trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.

Tuy đã đóng góp và lao tâm cho công cuộc xây dựng nước nhà, nhưng do một phút lơ là, mất cảnh giác mà vua An Dương Vương đã rơi vào thảm cảnh mất nước. Truyền thuyết kể rằng, Triệu Đà biết mình không thể chống lại binh khí hùng hậu và chín vòng thành kiên cố của vua An Dương Vương nên tìm cách trì hoãn bằng cách cầu hòa. An Dương Vương không mảy may nghi ngờ, cũng vì thương nước thương dân muốn nước nhà hòa bình mà không hiểu kế sâu xa của kẻ thù nên đã đồng ý. Ngay lập tức Triệu Đà bày kế, cầu hôn Mỵ Châu cho Trọng Thủy - con trai mình. An Dương Vương cũng đồng ý cho người thân duy nhất của mình lấy con trai kẻ thù. An Dương Vương không có kế sách đối phó hay suy tính gì và cho Trọng Thủy ở rể theo phong tục nước Âu Lạc. Đây chính là manh mối đầu tiên dẫn đến bi kịch nước mất nhà tan sau đó, An Dương Vương đã tạo cơ hội thuận lợi cho gián điệp cải trang thành rể moi ra những bí mật quân sự của quốc gia.

Thấy nhà vua - cha mình đã tin tưỡng như vậy, công chúa Mỵ Châu cũng không hề nghi ngờ chồng mình chính là nội gián, nàng còn ngây thơ tin vào tình yêu toan tính của Trọng Thủy và giúp hắn đổi nỏ. Sau khi có được nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang lần nữa. Lúc này, An Dương Vương vẫn chưa biết mình đã mất nỏ thần.

Xưa còn cảnh giác dời kinh thành, lo địch đến gần nên chuẩn bị chín vòng thành và binh khí tầm xa, nhưng giờ đây An Dương Vương hoàn toàn "ngủ quên trên chiến thắng", chủ quan khinh địch. tự cho mình là có thể giành được nỏ thần mà không cần bất kỳ sự phòng thủ nào. Quân Triệu Đà dừng lại, An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ cười hỏi: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Tời lúc giặc tràn vào, An Dương Vương mới sửng sốt phát hiện nỏ thần đã bị đánh tráo, bị đẩy đến bước đường cùng không còn cách nào đành mang theo con giá Mị Châu bỏ chạy.

Sự nghiệp bao năm gây dựng bỗng chốc tan thành mây khói, vì chủ quan, mất cảnh giác, An Dương Vương đã để đất nước rơi vào tay giặc. Tời trước mặt là biến cả mênh mông, phía sau quân giặc đã đuổi theo sát nút, ông tuyệt vọng kêu cứu sứ Thanh Giang: “Trời hại ta, sứ Thanh Giang sứ ở đâu mau mau lại cứu”. Rùa Vàng xuất hiện và chỉ kẻ đứng sau là kẻ thù. An Dương dù vô cùng đau buồn khi biết sự thật, đành rút kiếm giết chết đứa con gái duy nhất của mình. Hành động này thể hiện ý chí quyết tâm của ông, ông làm được khi đứng trên lập trường dân tộc, công lý và lợi ích của dân tộc để trừng trị những kẻ thù trong giặc ngoài hại nước. Vậy là cùng một lúc An Dương Vương phải đối mặt với hai bi kịch: Bi kịch mất nước và bi kịch mất gia đình, giết chết đứa con trai yêu quý của mình. Hành động cuối cùng của ông tuy muộn nhưng cũng là hồi chuông cảnh tỉnh, là bài học xương máu cho thế hệ sau trong công cuộc giữ nước.

Sau khi xuống tay với đứa con gái duy nhất của mình, An Dương Vương cầm chiếc sừng tê bảy tấc trở về biển, nhân dân ta đã truyền thuyết hóa làm cho An Dương Vương sống mãi trong lòng dân tộc. Chi tiết kì ảo thể hiện tình cảm, thái độ của nhân dân ta: vì thương tiếc người anh hùng có công dựng nước nhưng chỉ do một sơ suất nhỏ mà cơ đồ như tan chìm xuống biển sâu. An Dương Vương tuy có tội nhưng lại cũng có công lớn, nên cứ thể trở thành hình tượng sống cùng dân tộc.

Xây dựng nhân vật An Dương Vương các tác giả đã sử dụng nhiều yếu tố kì ảo: sự giúp đỡ của Rùa Vàng, nỏ thần,… để khẳng định đề cao những chiến công của ông đối với đất nước. Giọng văn mạch câu chuyện được biến hóa phong phú, khi ngợi ca tôn vinh, khi ngậm ngùi, chua xót cho cảnh nước mất nhà tan.

Qua "Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy", các tác giả dân gian đã dựng lên chân dung vị vua vừa có công vừa có tội. Có công khi đã dời đô, xây dựng kinh thành kiên cố, phát triển đất nước giàu mạnh. Có tội vì đã lờ là mất cảnh giác để đất nước rơi vào tay giặc, nhân dân chịu cảnh lầm than. Nhân vật đã để lại bài học sâu sắc cho muôn thế hệ sau về việc dựng nước và giữ nước, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác trước kẻ thù.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê để phân tích hình tương nhân vật An Dương Vương trong Truyền thuyết An Dương Vương - Mị Châu Trọng Thủy. Mong rằng bài viết hữu ích cho các bạn.