1. Dàn ý Phân tích Phú sông Bạch Đằng
1.1. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu. Khái quát về thể phú. Dẫn dắt giới thiệu bài thơ.
1.2. Thân bài
1.2.1. Cảm xúc của nhân vật khách trước sông Bạch Đằng
a, Giới thiệu về khách
Nhân vật "khách": Là sự tự xưng của tác giả, tạo nên lối chủ- khách đối đáp thường dùng trong thể phú.
- Nhịp điệu tự do linh hoạt, câu ngắn câu dài đan xen, giống như nhịp con thuyền đi trên sông, lúc dừng lại để thưởng ngoạn, lúc thì lướt băng băng trên sóng Bạch Đằng.
- Không gian mở ra thoáng đạt với gió, trăng, bể với tâm thế du ngoạn: Giương buồm, giong gió, lướt bể, chơi trăng, mải miết.
- Hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên vũ trụ đã cho thấy tâm hồn tự do khoáng đạt cũng như niềm tự do mãnh liệt của khách khi đến với thiên nhiên. Khách chủ động hòa mình vào thiên nhiên.
=> Hiện lên chân dung một con người với tư thế ung dung đang mở rộng tâm hồn khoáng đạt để thu vào mình tất cả bao la của đất trời. Đó là con người say đắm với thú ngao du sơn thủy, muốn làm bạn với gió trăng.
- Hành trình du ngoạn của tác giả:
+ Các địa danh Trung Quốc: Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng.
=> Đây đều là những thắng cảnh nổi tiếng gắn với không gian sông nước => cách nói có phần ước lệ vì được biết đến qua sách vở, qua sự tưởng tượng. Tác giả là người có vốn hiểu biết phong phú, sâu rộng.
+ Các danh lam thắng cảnh nước Việt: Đại Than, Đông Triều và dừng chân ở sông Bạch Đằng - dòng sông của chiến công lịch sử vẻ vang của dân tộc.
=> Tác giả yêu thiên nhiên, thiết tha với quê hương, đất nước với quá khứ hào hùng của dân tộc.
+ Cách nói cường điệu: Sớm Nguyên Tương - chiều Vũ Huyệt, hành trình dài được khách thực hiện trong một ngày.
+ Liệt kê các địa danh và so sánh => khách muốn đi khắp mọi nơi. Tất cả mọi phản ứng của nhân vật khách về cuộc viễn du chính là sự chuẩn bị cho người đọc tâm thế thích hợp khi tiếp xúc với dòng sông Bạch Đằng.
=> Không gian, thời gian của cuộc hành trình đã nâng cao tầm vóc của khách, say sưa, chủ động đến với thiên nhiên.
b, Cảnh sắc thiên nhiên trên sông Bạch Đằng và tâm trạng của khách
- Hùng vĩ, tráng lệ:
+ "Sóng kình muôn dặm": Địa thế hiểm trở, dữ dội của con sông Bạch Đằng. “Sóng hình” là những con sóng lớp lớp nối đuôi nhau mở ra không gian rộng lớn của vùng sông nước.
+ "Đuôi trĩ một màu": không gian nên thơ, bồng bềnh, thiết tha với những con thuyền nối đuôi nhau trên dòng sông.
- Thơ mộng, trữ tình
+ “Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu”=> Cảnh cuối thu trời xanh biếc, Bầu trời và mặt nước đều hòa chung một màu trong xanh.
- Hoang vu, hiu hắt
+ Từ láy "san sát, đìu hiu": Cực tả khung cảnh hoang vu, lạnh lẽo đầy lá lách, lau sợi
+ "Giáo gãy, xương khô": Chiến trường xưa, chốn tử nạn của quân thù.
- Tâm trạng của khách:
+ Buồn thương, tiếc nuối trước cảnh vật đổi thay, cho những người đã ngã xuống
+ Tư thế "đứng lặng giờ lâu" cho thấy nhà thơ đang đắm chìm vào thế giới nội tâm với sự tiếc nuối ngậm ngùi.
+ Đến với sông Bạch Đằng, tâm trạng của khách đan xen nhiều cung bậc, có niềm vui, có sự tự hào xung quanh trời đất nhưng man mác nỗi buồn vì cảnh trước mặt hoang vắng, đìu hiu, thương nhớ những anh hùng đã khuất, tiếc nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt giờ đã vắng bóng phai nhạt dần dấu vết thời gian.
=> Khách chính là sự phân thân của tác giả cho nên qua nhân vật khách ta cũng hiểu được lòng tác giả. Đó là con người có tâm hồn phóng khoáng, nhạy cảm, đặc biệt là người nặng lòng với lịch sử dân tộc.
1.2.2. Lời kể về những chiến công trên sông Bạch Đằng
- “Bên sông, các bô lão hỏi ý ta sở cầu?”. Hình ảnh “Bô lão” là những bậc cao niên, là những chứng nhân lịch sử cũng có thể là hư cấu, sự phân thân của tác giả để khách quan, đáng tin cậy kể về những chiến công trên sông Bạch Đằng.
- Thái độ của các bô lão đối với khách khi đến sông Bạch Đằng là thái độ nhiệt tình, hiếu khách, trân trọng: "vái", "thưa".
- Qua lời kể của các bô lão, sông Bạch Đằng hiện lên là nơi ghi dấu chiến công chói lọi từ bao đời. Đó là chiến công hào hùng của thế hệ trước: Ngô chúa phá Hoằng Thao, là buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã...
- Không khí chiến trường xưa:
+ Sự chuẩn bị của quân nhà Trần: "thuyền bè muôn đội", "tinh kì phấp phới", "hùng hổ sáu quân", "gươm giáo sáng chói"
=> Chuẩn bị kĩ lưỡng, binh lực hùng hậu, hào khí ngút trời.
+ Diễn biến trận đánh: "được thua chửa phân", "bắc nam chống đối", hình ảnh phóng đại "nhật – nguyệt phải mờ, bầu trời đất sắp đổi"
=> Trận đánh gay go, quyết liệt, giằng co căng thẳng.
• Quân giặc: "Những tưởng gieo roi một lần quét sạch/ Nam bang bốn cõi" cho thấy sự kiêu căng, hống hách, ngạo mạn.
+ Kết thúc trận đánh: Hung đồ hết lối, khác nào... chết trụi.
=> Cảnh thủy chiến trên sông Bạch Đằng với lực lượng đông đảo hùng hậu, giặc mạnh, lắm mưu nhiều kế, sự gian xảo, quỷ quyệt, ngạo nạn. Còn ta là đội quân chính nghĩa thuận ý trời. Đó không chỉ là cuộc đối đầu về lực lượng mà còn là sự đối đầu về ý chí.
• Cách miêu tả chiến sự rất dữ dội, ác liệt qua hình ảnh giàu tính biểu cảm. Sử dụng tích xưa cùng việc so sánh những cuộc đánh lớn ở Trung Hoa với “Hốt Tất Liệt”- “trận Xích Bích” => tăng cấp tô đậm, nhấn mạnh nói lên sự thất bại của kẻ thù, khẳng định chiến công oanh liệt của ta.
• Cách kể khi thì dồn dập gấp gáp với những câu ngắn, khi thì chậm rãi với những câu văn dài, khi thì xúc tích với điển cố. => lời kể ngắn gọn nhưng lại tái hiện sinh động diễn biến cuộc chiến: có tên trận đánh, có tên người chỉ huy, có sự chuẩn bị về tinh thần và lực lượng...khiến ta có cảm giác hồi hộp về diễn biến kết quả trận đánh.
1.2.3. Lời suy ngẫm, bình luận của khách, các bô lão về những chiến công
- Khẳng định nguyên nhân làm nên chiến thắng là nhờ địa linh và nhân kiệt, đề cao vai trò của Trần Quốc Tuấn: "đất trời cho nơi hiểm trở", "nhân tài giữ được cuộc điện an", "đại vương coi thế giặc nhàn".
=> Nhấn mạnh ba yếu tố làm nên thắng lợi thiên thời - địa lợi - nhân hòa, trong đó nhấn mạnh vai trò của con người.
- Gợi lên hình ảnh Trần Quốc Tuấn và so sánh với những người xưa
=> Khẳng định sức mạnh, tài năng của con người nhất là người lãnh đạo. Thể hiện giá trị nhân văn của tác phẩm.
1.2.4. Suy ngẫm về hưng vong của đất nước
- Lời của các bô lão.
+ Hình tượng sông Bạch Đằng: mênh mông, rộng lớn, hùng vĩ, hiểm trở
=> Tình yêu, niềm tự hào về cảnh sắc quê hương, về dòng sông lịch sử.
+ Bằng cách mượn quy luật tự nhiên trường tồn bất biến tác giả khẳng định quy luật của lịch sử con người .Trong lời ca của khách, ta thấy lời hát của các bô lão, đó là sự tiếp nối, mở rộng về mặt tư tưởng, niềm tin về nền thái bình của đất nước: Mọi dòng sông đều dồn về biển cả, những kẻ bất nghĩa sẽ tiêu vong, anh hùng lưu danh muôn đời.
- Lời của khách:
+ Ca ngợi sông Bạch Đằng dòng sông lịch sử, dòng sông anh hùng.
+ Ca ngợi đức độ, tài năng hai vị thánh quân Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông.
+ Ca ngợi cuộc sống thanh bình của dân tộc.
1.2.5. Nội dung, nghệ thuật
- Gợi nhớ lại khung cảnh của trận chiến vang dội trong lịch sử dân tộc nhằm thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc; chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử.
- Sự kết hợp của những câu văn biền ngẫu cùng với những hình ảnh thơ, hình tượng nhân vật sống động, đặc sắc mang ý nghĩa triết lí. Bố cục chặt chẽ, giọng điệu lời kể hào hùng. Ngôn ngữ cô đọng, trong sáng, hào hùng. Các phép so sánh, phóng đại cùng việc sử dụng các điển tích điển cố: nâng tầm vóc của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc.
1.3. Kết bài
- Khái quát nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Mở rộng đề tài, cảm nhận chung về bài thơ.
2. Phân tích Phú sông Bạch Đằng chọn lọc hay nhất
Trương Hán Siêu là một danh nhân văn hóa đời Trần, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình. Ông là người có kiến thức uyên thâm, sâu rộng và từng được làm môn khách của Trần Quốc Tuấn tham gia vào hai cuộc kháng chiến quân Mông- Nguyên. Trương Hán Siêu là một nhà thơ nổi bật của thời đại và "Phú sông Bạch Đằng" là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, tiêu biểu cho văn học yêu nước thời Lí- Trần. Bài phú ra đời là dấu hiệu suy thoái của nhà Trần, là tiếng nói lòng yêu nước, niềm tự hào trước truyền thống vẻ vang của dân tộc, đồng thời cũng là bảnh hùng ca bất khuất, đạo lý nhân nghĩa sáng ngời.
"Phú sông Bạch Đằng" được Trương Hán Siêu viết theo thể phú cổ. Nguyên bài phú được viết bằng chữ Hán, lấy cảm hứng từ cuộc đói đáp của hai nhân vật chủ và khách.
Mở đầu bài phú, nhà thơ đưa người đọc vào một thế giới hùng vĩ, bao la trước sông Bạch Đằng:
Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.
....
Qua cửa Đại Than
Ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng,
Thuyền bơi một chiều.
Nhân vật "khách" ở đây là sự tự xưng của tác giả, tạo nên lối chủ- khách đối đáp thường dùng trong thể phú. Trương Hán Siêu sử dụng nhịp điệu tự do linh hoạt, câu ngắn câu dài đan xen, giống như nhịp con thuyền đi trên sông, lúc dừng lại để thưởng ngoạn, lúc thì lướt băng băng trên sóng Bạch Đằng. Ở đây, không gian mở ra thoáng đạt với hình ảnh gió, trăng, bể trong tâm thế du ngoạn: "Giương buồm", "giong gió", "lướt bể", "chơi trăng", "mải miết". Lại thêm các từ láy "chơi vơi", "mải miết" diễn tả thật đậm nét tâm hồn của một bậc mặc khách, tao nhân đang vi vu cùng với đất trời, thỏa chí mà phóng khoáng, ngao du. Hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên vũ trụ đã cho thấy tâm hồn tự do khoáng đạt cũng như niềm tự do mãnh liệt của khách khi đến với thiên nhiên. Khách chủ động hòa mình vào thiên nhiên. Bức tranh phong cảnh hiện lên chân dung một con người với tư thế ung dung đang mở rộng tâm hồn khoáng đạt để thu vào mình tất cả bao la của đất trời. Đó là con người say đắm với thú ngao du sơn thủy, muốn làm bạn với gió trăng. Kẻ lãng du ấy kéo theo cả hàng loạt những địa danh, những phong cảnh đẹp của Trung Hoa như Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, nào là Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, Đầm Vân Mộng. Đây đều là những thắng cảnh nổi tiếng gắn với không gian sông nước, cách nói có phần ước lệ vì những địa danh này được biết đến qua sách vở, qua sự tưởng tượng. Hình ảnh này đã đưa đến cho người đọc ấn tượng khá rõ về những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, góp phần thể hiện niềm ham thích tự do, phóng khoáng của nhân vật khách. Cảm hứng về cuộc viễn du mở đầu bài phú, thực ra chỉ là sự chuẩn bị một không khí thích hợp trước khi đi vào thế giới hùng vĩ của sông Bạch Đằng lịch sử.
Các danh lam thắng cảnh nước Việt: Đại Than, Đông Triều và dừng chân ở sông Bạch Đằng - dòng sông của chiến công lịch sử vẻ vang của dân tộc cũng xuất hiện trong hành trình của khách cho thấy tác giả yêu thiên nhiên, thiết tha với quê hương, đất nước với quá khứ hào hùng của dân tộc. Cách nói cường điệu: Sớm Nguyên Tương - chiều Vũ Huyệt, hành trình dài được khách thực hiện trong một ngày. Cách liệt kê các địa danh Trung Hoa, Đại Việt và so sánh ho thấy khách muốn đi khắp mọi nơi. Tất cả mọi phản ứng của nhân vật khách về cuộc viễn du chính là sự chuẩn bị cho người đọc tâm thế thích hợp khi tiếp xúc với dòng sông Bạch Đằng. Không gian, thời gian của cuộc hành trình đã nâng cao tầm vóc của khách, say sưa, chủ động đến với thiên nhiên.
Cảnh sắc thiên nhiên trên sông Bạch Đằng và tâm trạng của nhân vật "khách":
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc, phong cảnh: ba thu.
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô.
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Dưới con mắt của nhân vật khách, thiên nhiên hiện lên với những vẻ đẹp khác nhau. Đó là vẻ đẹp tráng lệ, hùng vĩ:
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Hình ảnh "Sóng kình muôn dặm" miêu tả địa thế hiểm trở, dữ dội của con sông Bạch Đằng. “Sóng hình” là những con sóng lớp lớp nối đuôi nhau mở ra không gian rộng lớn của vùng sông nước. Câu thơ thứ hai gợi hình ảnh "Đuôi trĩ một màu" vẽ lên không gian nên thơ, bồng bềnh, thiết tha với những con thuyền nối đuôi nhau trên dòng sông.
Không gian sông nước hòa vào làm một, một phong cảnh thơ mộng, trữ tình đã trải suốt bao năm:
Nước trời một sắc, phong cảnh: ba thu.
Cảnh cuối thu trời xanh biếc, bầu trời và mặt nước đều hòa chung một màu trong xanh. Câu thơ trên như là bản lề để mở ra vẻ đẹp hoang vu, hiu hắt của sông Bạch Đằng:
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô.
Từ láy "san sát, đìu hiu" cực tả khung cảnh hoang vu, lạnh lẽo đầy lá lách, lau sợi. Hình ảnh "Giáo gãy, xương khô" biểu tượng cho chiến trường xưa, chốn tử nạn của quân thù. Nhìn cảnh tượng hoang vu ấy, nhân vật khách liên tưởng đến đáy sông với hàng loạt vũ khí bỏ lại, nhìn gò mà nhớ tới những nấm mồ của bao nhiêu người đã bỏ mạng lại trong các trận chiến.
Trước cảnh sông nước hùng vĩ và thơ mộng ấy, tác giả cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Đây là chiến trường ác liệt xưa kia, ta thắng lớn, nhưng kể sao cho hết những hi sinh mất mát với bao giáo gãy, xương khô. Trời nước như gợi lại chuyện cũ, khiến người hôm nay không tránh khỏi động lòng tiếc nuối, xót thương cho bao anh hùng đã khuất. Ở đoạn thơ này, ta thấy một tâm trạng của khách qua những câu thơ có âm hưởng trầm lắng, với điệu cảm khái:
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Nhận vật "khách" buồn thương, tiếc nuối trước cảnh vật đổi thay, cho những người đã ngã xuống. Tư thế "đứng lặng giờ lâu" cho thấy nhà thơ đang đắm chìm vào thế giới nội tâm với sự tiếc nuối ngậm ngùi. Đến với sông Bạch Đằng, tâm trạng của khách đan xen nhiều cung bậc, có niềm vui, có sự tự hào xung quanh trời đất nhưng man mác nỗi buồn vì cảnh trước mặt hoang vắng, đìu hiu, thương nhớ những anh hùng đã khuất, tiếc nuối vì chiến trường xưa một thời oanh liệt giờ đã vắng bóng phai nhạt dần dấu vết thời gian. Khách chính là sự phân thân của tác giả cho nên qua nhân vật khách ta cũng hiểu được lòng tác giả. Đó là con người có tâm hồn phóng khoáng, nhạy cảm, đặc biệt là người nặng lòng với lịch sử dân tộc.
Bên cạnh hình tượng nhân vật khách, ta còn thấy hiện lên hình tượng của các bô lão với những gợi nhắc về trận chiến oanh liệt trên sông Bạch Đằng lịch sử:
Bên sông bô lão hỏi, hỏi ý ta sở cầu?
Có kẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau.
Vái ta mà thưa rằng:
Đây là chiến địa buổi trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.
Hình ảnh “Bô lão” là những bậc cao niên, là những chứng nhân lịch sử nhưng cũng có thể là hư cấu, sự phân thân của tác giả để khách quan, đáng tin cậy kể về những chiến công trên sông Bạch Đằng. Thái độ của các bô lão đối với khách khi đến sông Bạch Đằng là thái độ nhiệt tình, hiếu khách, trân trọng: "vái", "thưa". Họ tôn kính khách và tự hào kể lại trận chiến năm xưa. Qua lời kể của các bô lão, sông Bạch Đằng hiện lên là nơi ghi dấu chiến công chói lọi từ bao đời. Đó là chiến công hào hùng của thế hệ trước: Ngô chúa phá Hoằng Thao, là buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã...
Trận thuỷ chiến được khắc họa thật cô đọng, với những câu thật cô đọng:
Đương khi ấy:
Thuyền tàu muôn đội, tinh kỳ phấp phới.
Hùng hổ sáu quân,
Giáo gươm sáng chói.
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi.
Kìa: Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối,
Những tưởng gieo roi một lần,
Quét sạch Nam bang bốn cõi.
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người,
Hung đồ hết lối!
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
Tái tạo công lao, Nghìn xưa ca ngợi.
Sự chuẩn bị của quân nhà Trần: "thuyền bè muôn đội", "tinh kì phấp phới", "hùng hổ sáu quân", "gươm giáo sáng chói". Đây là sự chuẩn bị kĩ lưỡng, binh lực hùng hậu, hào khí ngút trời. Quân giặc: "Những tưởng gieo roi một lần quét sạch/ Nam bang bốn cõi" cho thấy sự kiêu căng, hống hách, ngạo mạn. Người đọc có thể hình dung khá rõ sự đông đảo của lực lượng tham chiến, lẫn khí thế quyết chiến của hai bên và sự khốc liệt, dữ dội của một cuộc chiến mà cả hai đều ngang tài, ngang sức "được thua chửa phân", "bắc nam chống đối"; có thể làm đổi thay cả vũ trụ qua hình ảnh phóng đại "nhật – nguyệt phải mờ, bầu trời đất sắp đổi". Giặc thừa sự kiêu ngạo của kẻ đã từng tung vó ngựa thôn tính nhiều quốc gia từ Á sang Âu: Những tưởng tung roi một lần là có thể: Quét sạch Nam Bang bốn cõi. Còn với quân ta đây là cuộc chiến đấu chính nghĩa, vì chính nghĩa nên thuận với lẽ trời "trời cũng chiều người". Trong quan niệm của cha ông ta xưa, trời bao giờ cũng công minh, chính trực, đứng về phía chính nghĩa, trừng phạt kẻ bạo tàn.
Và chính nghĩa đã chiến thắng, trận chiến kết thúc với hình ảnh:
Hung đồ hết lối!
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
Tái tạo công lao, Nghìn xưa ca ngợi.
Cảnh thủy chiến trên sông Bạch Đằng với lực lượng đông đảo hùng hậu, giặc mạnh, lắm mưu nhiều kế, sự gian xảo, quỷ quyệt, ngạo nạn. Còn ta là đội quân chính nghĩa thuận ý trời. Đó không chỉ là cuộc đối đầu về lực lượng mà còn là sự đối đầu về ý chí. Cách miêu tả chiến sự rất dữ dội, ác liệt qua hình ảnh giàu tính biểu cảm. Sử dụng tích xưa cùng việc so sánh những cuộc đánh lớn ở Trung Hoa với “Hốt Tất Liệt”- “trận Xích Bích” đã tăng cấp tô đậm, nhấn mạnh nói lên sự thất bại của kẻ thù, khẳng định chiến công oanh liệt của ta. Trương Hán Siêu có cách kể khi thì dồn dập gấp gáp với những câu ngắn, khi thì chậm rãi với những câu văn dài, khi thì xúc tích với điển cố. Lời kể ngắn gọn nhưng lại tái hiện sinh động diễn biến cuộc chiến: có tên trận đánh, có tên người chỉ huy, có sự chuẩn bị về tinh thần và lực lượng...khiến ta có cảm giác hồi hộp về diễn biến kết quả trận đánh. Địch thua nhục nhã và ta đã thắng vang dội. Nước sông tuy chảy hoài từ đó tới nay, trải qua bao tháng năm nhưng cái nhục ấy vẫn không rửa nổi. Các bô lão không nói nhiều đến phía quân ta chỉ nhấn mạnh lòng biết ơn sâu nặng: "Tái tạo công lao, Nghìn xưa ca ngợi" cũng đủ cho người đọc cảm nhận một cách sâu sắc tầm vóc to lớn của chiến thắng Bạch Đằng trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vóc của quân dân đời Trần. Điều đáng lưu ý, khi nói về quân địch, các bô lão nhấn mạnh vào yếu tố tinh thần.
Lời suy ngẫm, bình luận về những chiến công:
Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san.
Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an!
.....
Đến chơi sông chừ ủ mặt,
Nhớ người xưa chừ lệ chan.
Sự nhìn nhận của khách về chiến thắng cố chiều sâu triết lí. Sức mạnh của non sông đất nước không phải ở địa thế hiểm trở mà trước hết ở con người. Bô lão khẳng định nguyên nhân làm nên chiến thắng là nhờ địa linh và nhân kiệt, đề cao vai trò của Trần Quốc Tuấn: "đất trời cho nơi hiểm trở", "nhân tài giữ được cuộc điện an", "đại vương coi thế giặc nhàn". Nhấn mạnh ba yếu tố làm nên thắng lợi thiên thời - địa lợi - nhân hòa, trong đó nhấn mạnh vai trò của con người. Đoạn thơ gợi lên hình ảnh Trần Quốc Tuấn và so sánh với những người xưa qua đó nhằm khẳng định sức mạnh, tài năng của con người nhất là người lãnh đạo. Thể hiện giá trị nhân văn của tác phẩm.
Suy ngẫm về hưng vong của đất nước:
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về bể Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
Hình tượng sông Bạch Đằng qua lời các bô lão hiện lên mênh mông, rộng lớn, hùng vĩ, hiểm trở. Các bô lão thể hiện tình yêu, niềm tự hào về cảnh sắc quê hương, về dòng sông lịch sử. Bằng cách mượn quy luật tự nhiên trường tồn bất biến tác giả khẳng định quy luật của lịch sử con người .Còn trong lời ca của khách, ta thấy lời hát của các bô lão, đó là sự tiếp nối, mở rộng về mặt tư tưởng, niềm tin về nền thái bình của đất nước: Mọi dòng sông đều dồn về biển cả, những kẻ bất nghĩa sẽ tiêu vong, anh hùng lưu danh muôn đời. Nhân vật "khách" ca ngợi sông Bạch Đằng dòng sông lịch sử, dòng sông anh hùng. Ca ngợi đức độ, tài năng hai vị thánh quân Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Ca ngợi cuộc sống thanh bình của dân tộc. Có thể thấy, Sự nhìn nhận của khách về chiến thắng cố chiều sâu triết lí. Sức mạnh của non sông đất nước không phải ở địa thế hiểm trở mà trước hết ở con người.
Tác phẩm "Phú sông Bạch Đằng"c của Trương Hán Siêu gợi nhớ lại khung cảnh của trận chiến vang dội trong lịch sử dân tộc nhằm thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc; chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử. Bài phú có sự kết hợp của những câu văn biền ngẫu cùng với những hình ảnh thơ, hình tượng nhân vật sống động, đặc sắc mang ý nghĩa triết lí. Bố cục chặt chẽ, giọng điệu lời kể hào hùng. Ngôn ngữ cô đọng, trong sáng, hào hùng. Các phép so sánh, phóng đại cùng việc sử dụng các điển tích điển cố đã nâng tầm vóc của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc.
Tác phẩm được coi là đỉnh cao của nghệ thuật phú trong văn học trung đại Việt Nam vì thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sâu sắc trước những chiến công trên sông Bạch Đằng lịch sử.
Trên đây là dàn ý bài mẫu Phân tích Phú sông Bạch Đằng chọn lọc hay nhất. Luật Minh Khuê mong rằng bài viết sẽ có ích với bạn. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có những thắc mắc hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ giải đáp. Trân thành cảm ơn!