1. Dàn ý
1.1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Bác Hồ.
- Giới thiệu vài nét về bài "Cảnh khuya" và "Rằm tháng giêng".
1.2. Thân bài
a. Bài thơ "Cảnh khuya":
- Hai câu đầu: "Tiếng suối trong như tiếng hát xa. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa":
- Cảnh thiên nhiên khuya vừa đẹp, vừa tĩnh lại vừa động.
- Trăng tỏa ánh sáng xuống trần gian, hòa trong vẻ đẹp của cây rừng Việt Bắc, ánh trăng trên trời cao xuyên qua từng kẽ lá in xuống đất như những bông hoa
- Nghệ thuật sử dụng từ ngữ tài tình, biện pháp so sánh, điệp từ, thủ pháp lấy bóng tối để tả ánh sáng,...
- Hai câu cuối: "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà":
- Tình yêu thiên thiên, tình yêu quê hương đất nước và nỗi trăn trở, băn khoăn của nhà thơ.
- Biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ vòng "chưa ngủ".
→ Kết luận: cảnh khuya tại nơi chiến khu Việt Bắc với những nét vẽ tài tình qua việc tác giả sử dụng những thủ pháp nghệ thuật tài tình, hiện lên trong đó là một tâm hồn thanh cao, phong thái ung dung hòa quyện với tình yêu thiên nhiên, dân tộc và đất nước.
b. Bài thơ "Rằm tháng giêng":
- Hai câu thơ đầu: "Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên. Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên":
- Hình ảnh trăng "nguyệt chính viên"- trăng tròn và đẹp nhất.
- Sức sống của mùa xuân với sự xuất hiện biện pháp điệp từ 3 chữ "xuân".
- Cách miêu tả thiên nhiên: gợi ít mà tả nhiều, tác giả dùng vài nét chấm phá của hai gam màu trắng/ đen và sáng/ tối, cùng sự tài tình sử dụng câu từ gợi lên cảnh đêm xuân tuyệt đẹp
- Hai câu thơ cuối: "Yên ba thâm xứ đàm quân sự. Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền":
- Bàn việc quân giữa hình ảnh "trăng ngân đầy thuyền" thể hiện sự mong muốn vươn tới thành công trong sự nghiệp cách mạng.
- Vẻ đẹp tâm hồn của con người, với sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên và đất nước đầy say mê.
→ Kết luận: Hình ảnh thiên nhiên với đêm trăng trên sông nước tuyệt đẹp, hiện lên trên đó là tấm lòng bao la đối với đất nước, với dân tộc của vị lãnh tụ vĩ đại
c. Nét chung và nét riêng của hai bài thơ:
- Nét chung:
- Được sáng tác và lấy cảm hứng từ sự rung động của con người trước vẻ đẹp thiên nhiên vùng Tây Bắc trữ tình
- Hai bài thơ cùng thuộc thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt.
- Miêu tả những hình ảnh độc đáo bộc lộ tình yêu thiên nhiên và đất nước của tác giả, đặc biệt là hình ảnh trăng ở tác phẩm.
- Con người không hề đơn độc mà luôn hòa quyện với thiên nhiên, dù ở hoàn cảnh chiến tranh gay go ác liệt, nhưng tâm hồn con người vẫn luôn hướng tới những điều tốt đẹp nhất.
- Nét riêng:
- Bài thơ Cảnh khuya: thể hiện sự hài hòa mọi sự vật và nỗi trăn trở về việc nước của Bác, nhà thơ một mình ngắm trăng và cảm nhận vẻ đẹp của trăng trong đêm khuya ở khung cảnh núi rừng Việt Bắc.
- Bài thơ Rằm tháng giêng lại là bức tranh đầy sắc xuân và tâm trạng say mê thưởng thức vẻ đẹp trời xuân của nhà thơ, nhà thơ cùng đồng chí của mình bàn việc quân ở khung cảnh sông nước nơi Việt Bắc.
1.3. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của bài thơ, ý nghĩa từ hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng.
2. Bài tham khảo phân tích thiên nhiên trong bài Cảnh khuya và Rằm tháng giêng hay nhất
2.1. Mở bài
Bác vốn là một người có tình yêu thiên nhiên tha thiết. Dù là trong hoàn cảnh ngày đêm lo cho đất nước thì Bác vẫn dành cho mình chút ít thời gian để thưởng thức cảnh vật thiên nhiên xung quanh mình. Và trong khoảng thời gian làm việc ở Pác Bó Bác đã viết nên hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng.
2.2. Thân bài
Lấy cùng một cảm hứng, cùng một chủ đề về ánh trăng nhưng ở trong mỗi tác phẩm thì Hồ Chí Minh lại có cách cảm nhận, miêu tả vẻ đẹp của ánh trăng theo cách riêng biệt khác nhau. Trước hết là bài Cảnh khuya:
"Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa."
Hai câu thơ đầu đã miêu tả về khung cảnh núi rừng Việt Bắc trong đêm trăng sáng với hình ảnh: trăng, hoa, cổ thụ và âm thanh: tiếng suối. Đây là những âm thanh và hình ảnh rất dễ bắt gặp ở nơi núi rừng Việt Bắc, và khi màn đêm buông xuống, trong không gian tĩnh lặng thì những cảnh vật và âm đó hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết.
Chỉ trong hai câu thơ mà Hồ Chí Minh đã sử dụng một loạt các biện pháp nghệ thuật để khắc họa lại vẻ cảnh đẹp thiên nhiên ấy: biện pháp so sánh âm thanh tiếng suối với âm thanh tiếng hát, gợi lên sự tương đồng về đặc điểm một âm anh rất hay, trong trẻo, thánh thót, văng vẳng mơ hồ từ phía xa vọng lại. Đặc biệt là sự chuyển đổi cảm giác trong câu thơ của người: đang từ miêu tả tiếng suối- từ chỉ âm thanh được cảm nhận bằng thính giác, sang "trong"- từ chỉ đặc điểm và được cảm nhận bằng thị giác. Vốn dĩ ta không thể cảm nhận được âm thanh của dòng suối bằng thị giác bởi âm thanh vốn không màu, không hình nên ta không thể xác định được là trong hay đục, nhưng qua câu thơ của Người ta lại có cảm nhận tiếng suối như tiếng hát xa trong trẻo, đó là tiếng nhạc của rừng xanh, tiếng nhạc của thiên nhiên, chi tiết này thể hiện sự tinh thế trong tâm hồn, sự nhạy cảm ngôn ngữ của tác giả.
Thủ pháp điệp từ "lồng" được lặp lại hai lần trong cùng một câu thơ 7 chữ, góp phần làm tăng mạnh thêm sự đan xen, chồng chéo, tràn ngập ánh trăng, tạo nên cảm giác không chỉ ánh trăng mà toàn thể mọi vật xung quanh cùng trở lên quấn quýt, đan bện khó chia lìa. Tiếp đó là cách miêu tả lấy bóng tối để tả ánh sáng của nhà thơ, đây là cách miêu tả rất quen thuộc của những tác phẩm đường thi: Bác đã dùng hình ảnh bóng của những cây cổ thụ để gợi lên ánh sáng của vầng trăng, chỉ khi trăng sáng lên thì ta mới có thể thấy rõ được bóng cây cổ thụ, điều này góp phần khắc họa rõ nét hơn một đêm trăng sáng đẹp, rực rỡ chiếu soi nơi núi rừng Việt Bắc hiểm trở, hùng vĩ. Chưa dừng lại ở đó, ta còn thấy Bác sử dụng thủ pháp chấm phá điểm nhãn vô cùng tinh tế, lấy cái tiêu biểu để gợi tả, khắc họa nên cả một khung cảnh rộng lớn, chỉ dùng hình ảnh cây cổ thụ, tiếng suối, bóng cây mà đã khắc họa được một đêm trăng ở nhiều góc độ khác nhau từ trên cao, cho đến dưới mặt đất và cả trong không gian.
Cảnh khuya nơi núi rừng Việt Bắc thật đẹp và được khắc họa tài tình qua 4 nét vẽ: suối, trăng, cổ thụ, hoa, đây cũng là những hình ảnh điển hình trong các tác phẩm Đường thi, giúp gợi lên cái hồn cảnh vật núi rừng đêm thu hơn của nhiều năm về trước. Cảnh vật ấy vừa mang vẻ đẹp cổ điển, mà lại mang những nét hiện đại, gần gũi, giản dị, điều này biểu hiện một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung tự tại, một tình yêu thiên nhiên dạt dào của nhà thơ trong những ngày kháng chiến gian khổ.
Bài thơ không chỉ khắc họa hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, gần gũi mà còn có sự xuất hiện của con người, đó là hình ảnh người thi nhân trong đêm trăng sáng với những suy tư, suy nghĩ canh cánh trong lòng:
" Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà".
Nếu hai câu thơ đầu trung tâm là cảnh vật thiên nhiên tuyệt đẹp thì hai câu thơ cuối hình ảnh con người xuất hiện và trở thành trung tâm của bài thơ. Tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật một cách tinh tế: đó là biện pháp so sánh khung cảnh đêm khuya như một bức vẽ tuyệt đẹp và con người ở trong trạng thái "chưa ngủ", và từ "chưa ngủ" này được lặp lại ở cuối câu 3 đầu câu 4 đây là biện pháp điệp ngữ chuyển tiếp gợi cho chúng ta hai cách hiểu. Nhà thơ chưa ngủ là vì cảnh khuya chốn rừng núi tươi đẹp đã dẫn hồn nhà thơ vào cõi mộng say trăng, say thiên thiên; hay nhà thơ chưa ngủ vì còn một nỗi lo sâu xa hơn đó là "vì nước nhà", đó là nỗi băn khoăn đau đáu làm sao để thực hiện được ham muốn tột bậc ấy, đó là ham muốn "là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Bài thơ "Cảnh khuya" đã mang đến cho người đọc những cảm xúc ấn tượng về cảnh đẹp nơi núi rừng Việt Bắc qua sự miêu tả tài tình của nhà thơ, hiện lên trên đó không chỉ mỗi cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có hình ảnh con người với một phong thái ung dung, tự tại, tâm hồn yêu và gắn bó với thiên nhiên, một nhân cách cao cả của vị cha già của dân tộc. Nếu "Cảnh khuya" tạo nên ấn tượng với độc giả bởi hai gam màu cơ bản trắng/ đen, sáng/ tối thì trong "Rằm tháng giêng" thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp lồng lộng, bát ngát ánh trăng giữa dòng sông xuân mênh mang:
"Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên".
Hai câu thơ đầu bài thơ đã khắc họa lên một vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng đầy sức sống vào ngày rằm giữa tháng. Với bút phát tả cảnh tài tình của nhà thơ, người đọc đã được chiêm ngưỡng ánh trăng rằm vô cùng đẹp đẽ "nguyệt chính viên", vầng trăng ấy xuất hiện vào mùa xuân vừa đúng độ tròn, xinh tươi, soi sáng khắp thế gian, tỏa sáng cả một vùng trời cao rộng, trong trẻo, thoáng đãng nơi sông nước ở Việt Bắc. Bầu trời và vầng trăng tưởng như không còn giới hạn khi mà dòng sông mùa xuân, màu nước mùa xuân và bầu trời xuân đều nối liền với nhau. Điệp từ "xuân" được tác giả nhắc đi nhắc lại ba lần gợi cho độc giả cảm giác bay bổng, treo trẻo, rộng lớn, thanh bình, thảnh thơi giữa trời xuân. Do vậy có thể thấy xuân đã mang đến niềm vui, sự yêu thích cho tác giả, và trong mỗi câu thơ nhà thơ cũng đã gửi gắm tình yêu mến, sự gắn bó với thiên nhiên vô cùng dạt dào và giàu cảm xúc.
Không gian mùa xuân và cảnh vật thiên nhiên hòa quyện lại với nhau thật thơ mộng và tuyệt đẹp, khi mặt trăng tròn đầy mang vẻ đẹp rực rỡ của sắc xuân nhất, cũng là lúc ánh trăng bao trùm tỏa sáng vạn vật trong đêm. Dưới ánh trăng tuyệt đẹp đó, thiên nhiên tràn đầy sức sống cũng lần lượt được hiện lên với cảnh vật được miêu tả đang mở rộng dần với không gian ba chiều: chiều cao của ánh trăng cao vời vợi, chiều rộng của sông nước tiếp giáp với bầu trời, tất cả hòa quyện vào nhau làm nên một mùa xuân giàu sức sống. Vốn dĩ "nguyệt" (trăng), "giang" (sông), "thủy" (nước), "thiên" (trời) vốn là những chất liệu của thi ca cổ, nhưng với tài năng và sự sáng tạo của mình Bác đã làm nên cái riêng, làm rõ hơn sự nổi bật nét thần thái của bức tranh "nguyên tiêu" vô cùng tươi sáng, rực rỡ, tràn đầy sức sống và vô cùng gần gũi với con người.
Nhưng trong thơ của Bác, thiên nhiên dù có thơ mộng trữ tình, thanh thoát bao nhiêu thì cũng không bao giờ làm lu mờ, lấn át được vẻ đẹp của con người, trong bài thơ này đó là hình ảnh của những người chiến sĩ cách mạng đang bàn bạc việc quân, lên kế hoạch cho cuộc chiến đấu kháng chiến chống Pháp trường kỳ gian khổ của dân tộc:
"Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền".
Hình ảnh con người trong hai câu thơ cuối này có sự đặc biệt so với những sự xuất hiện của những con người khác trong thơ ca. Con người ở đây không còn hiện lên đơn độc nữa mà được thể hiện qua hình ảnh con thuyền cách mạng ấm cúng tình đồng chí, đồng đội. Ở đây, cái thực và cái ảo đan xe hài hòa với nhau "Yên ba thâm xứ" là ảo, "đàm quân sự" là thật, xong cái ảo đó là chất lãng mạn, chất trữ tình trong thơ bác. Còn cái thực ấy là những sự thảo luận, vạch ra đường lối, phương hướng chiến lược, phân công nhiệm vụ những vấn đề liên quan đến vận mệnh của Đảng, của đất nước. Ở đây ta thấy, hình ảnh con người chan hòa gần gũi với cảnh vật thiên nhiên, con thuyền giữa dòng sông trăng ấy cũng những người chiến sĩ cách mạng tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên Việt Bắc trong cảnh sông nước buổi đêm trở nên có hơi thở, có linh hồn.
Qua sự phân tích trên ta thấy hai bài thơ có nhiều nét tương đồng như: đều được nghệ sĩ sáng tác và lấy cảm hứng từ sự rung động của con người trước vẻ đẹp của vùng thiên nhiên Tây Bắc trữ tình, cùng được thể hiện dưới hình thức là thể thơ thất ngôn tư tuyệt, mỗi câu chữ mỗi biện pháp nghệ thuật đều được khai thác triệt để tạo nên chiều sâu của câu thơ về ý nghĩa. Từ cách miêu tả ấy ta có thể thấy nhà thơ có một tình yêu thiên nhiên sâu sắc, đặc biệt là sự ấn tượng về ánh trăng, có lẽ trăng đã trở thành người bạn đồng hành, một người đồng chí gắn bó sâu nặng với người dù là ở trong nhà lao tăm tối, trên đường chuyển nhà lao, hay trong hoàn cảnh kháng chiến đầy khó khăn, thiếu thốn. Và hiện lên trên đó, là hình ảnh con người hòa quyện vào thiên nhiên, say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên, với một tấm lòng bao la rộng lớn, sâu sắc luôn lo lắng cho cả vận mệnh của dân tộc.
Tiếp đó, ta cũng thấy được sự khác nhau, sự sáng tạo về cách thể hiện của nhà thơ qua mỗi tác phẩm. Nếu "Cảnh khuya" thể hiện sự hài hòa mọi vật và nỗi trăn trở của Bác về việc nước thì "Rằm tháng giêng" lại là một bức tranh xuân đầy màu sắc, và thể một tâm hồn đầy say mê của nhà thơ với vẻ đẹp của trời xuân, một nhân cách cao cả vĩ đại của những chiến sĩ cách mạng đang ngày đêm đưa đất nước đến ngày giải phóng. Và có lẽ, trăng là cảm xúc chủ đạo trong hai bài thơ để tác giả miêu tả về thiên nhiên: nếu trong "Cảnh khuya" ánh trăng đã được nhân hóa, trăng lồng vào bóng cây cổ thụ để giải hoa trên mặt đất, cảnh vật hiện ra lồng lộng dưới ánh trăng, cùng với tiếng suối trong trẻo, du dương làm cho ánh trăng thêm thơ mộng; thì "Rằm tháng giêng" mang đến một đêm trăng xuân, trăng mang không khí và hương vị, màu sắc xuân, cảnh ở đây là ở trên sông, có con thuyền nhỏ trong sương khói, và ánh trăng chan hòa với sông nước, như tràn đầy cả con thuyền nhỏ bàn việc quân.
2.3. Kết bài
Mỗi tác phẩm của Người đều để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc vì vẻ đẹp thiên nhiên, vì tấm lòng và tâm hồn cao cả, đẹp đẽ của người nghệ sĩ, vì sự tài tình trong cách thể hiện điêu luyện của người nghệ sĩ. Đặc biệt qua mỗi bức tranh thiên nhiên, Người đều gửi gắm tâm tư về sự nghiệp cách mạng của đất nước, cũng như tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước của nhà thơ.
Hy vọng bài viết trên đây Luật Minh Khuê đã giúp các bạn tìm chọn được bài Phân tích thiên nhiên trong bài Cảnh khuya và Rằm tháng giêng hay nhất.