1. Dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

A. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm

- Giới thiệu tác phẩm Chinh phụ ngâm và đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

 

B. Thân bài

1. 16 câu đầu: tình cảnh cô đơn lẻ loi của người chinh phụ

a. Hành động lặp đi lặp lại trong vô thức

- "Thầm reo từng bước": bước chân lặng lẽ trên hiên

- "Rủ thác đòi phen": vào phòng buông rèm

Đó là những hành động lặp đi lặp lại một cách vô thức, sự bần thần của người chinh phụ.

- "vắng, thưa": diễn tả sự vắng lặng của không gian, vừa miêu tả sự trống vắng trong lòng của người chinh phụ.

b. Thao thức trông tin chồng

- Ban ngày

+ Người chinh phụ gửi gắm vào chim thước

+ Nhưng tin chồng vẫn bặt vô âm tín

- Ban đêm

+ Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn

+ Thực tế phũ phàng, đèn chỉ là vật vô tri vô giác không thể san se nỗi buồn cùng nàng.

- Hình ảnh so sánh "hoa đèn" và "bóng người"

Hoa đèn là hình ảnh đầu bấc ngọn đèn, khi đèn cháy hết chỉ còn là hoa đèn tàn lụi, cũng như người chinh phụ mòn mỏi chờ chồng.

c. Cảm nhận của người chinh phụ về ngoại cảnh.

+ "gà gáy", "sương", "hoè" đây đều là những hình ảnh gắn với làng quê yên bình.

+ Từ láy "eo óc", "phất phơ" diễn tả vẻ hoang vu, đìu hiu của cảnh vật.

Dưới con mắt buồn của người chinh phụ, cảnh vật cũng trở lên tiêu điều, ảm đạm không còn sức sống.

d. Cảm nhận của người chinh phụ về thời gian

+ "khắc giờ đằng đẵng", "mối sầu dằng dặc": sự dàn trải củ nỗi nhỡ miên man không dứt

+Biện pháp so sánh kết hợp các từ láy cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút trôi qua đều dài như một năm

e. Hoạt động duy trì nếp sống hằng ngày

+ "gượng" nhấn mạnh sự gắng gượng của người chinh phụ

Sự mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm

+ Đốt hương để tìm kiếm sự thanh thản nhưng tâm trí lại miên man theo những dự cảm chẳng lành.

+ Trong gương chỉ có một khuôn mặt đầm đìa nước mắt

+ Muốn gảy đàn sắt  đàn cầm nhưng lại lo lắng có điềm gở, sự lo lắng thể hiện nỗi cô đơn và niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi.

 

2. Nỗi nhớ nhung của người chinh phụ

a. Ước muốn của người chinh phụ

+ "Gió đông": gió mùa xuân mang theo hơi ấm và sự sống

+ "non yên": điển tích nơi biên ải xa xôi

+ "nghìn vàng": hình ảnh ẩn dụ cho tấm lòng của người chinh phụ

=> Ước muốn của người chinh phụ gửi gắm niềm hy vọng, thương nhớ vào ngọn gió xuân tới nơi biên ải xa xôi.

 b. Nỗi nhớ của người chinh phụ

- Khoảng cách xa xôi, trắc trở không thể khoả lập, nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng.

- Nỗi nhớ dai dẳng, triền miên, đau đáu.

 

C. Kết bài

Khẳng định nghệ thuật và giá trị của tác phẩm.

 

2. Mẫu phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Nếu như ở giai đoạn đầu của văn học trung đại, các tác phẩm đa phần ca ngợi những vị anh hùng với ý chí bất khuất, ca ngợi những chiến công của dân tộc. Tới thế kỷ 18, 19 khi nhà nước phong kiến rơi vài khủng hoảng trầm trọng diễn ra rất nhiều cuộc chia ly. Lúc này văn học nhân đạo phát triển rực rỡ, cất lên tiếng nói tha thiết về quyền được sống, được hạnh phúc của con người. Trong đó không thể không nhắc đến tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ngóng chông tin chồng trong tác phẩm "Chinh Phụ ngâm" của Đặng Trần Côn do Đoàn Thị Điểm dịch.

Đặng Trần Côn là tác giả của tác phẩm "Chinh phụ ngâm", kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Ông sinh ta ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì. "Chinh phụ ngân" ra đời gây tiếng vang lớn, bên cạnh đó, ông còn sáng tác một số tác phẩm như: Tiêu tương bát cảnh, ba bài phú Trương Hàn tư thuần lô...

Đoàn Thị Điểm quê ở Hưng Yên, là một phụ nữ "đẹp người, đẹp nết, giỏi văn chương", là vợ thứ của tiến sĩ Nguyễn Kiều, bên cạnh bản dịch tác phẩm Chinh Phụ ngân, nữ sĩ còn để lại tác phẩm "Truyền kì tân phả" bằng chữ Hán.

Văn học Việt Nam chứng kiến biết bao những cuộc chia ly, tiễn biệt. "Chinh phụ ngâm" thể hiện nỗi thương nhớ, trông mong đợi chờ, nỗi buồn cô đơn, vất vả của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến. Đoạn trích tình cảnh lẻ loi đã làm nổi bật lên những nỗi lẻ loi, cô đơn cùng những nhớ mong, khát khao hạnh phúc.

Nhà văn Tô Hoài từ nói "Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại nó ra đời". Đặng Trần Côn sống trong thời kì chế độ phong kiến mục nát, khắp nơi nổ ra chiến tranh, nhà nhà sống trong loạn lạc, đâu đâu cũng thấy cảnh lầm than. Thấu hiểu tình cảnh đó, Đặng Trần Côn đã thay người phụ nữ có chồng đi chinh chiến cất lên tiếng than ai oán, chán ghét chiến tranh.

 Mở đầu đoạn trích, hình ảnh cô đơn lẻ loi của người chinh phụ hiện ra:

"Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

Ngoài rèm thước chẳng mách tin

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?"

Đi dạo trên hiên vắng nhưng thực chất chỉ là đi đi lại lại, đi dạo ở đây không phải là để thưởng hoa. Nàng lặng lẽ dạo hiên trong nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn. Giữa không gian "vắng" và "thưa", hình ảnh người chinh phụ như gieo vào lòng người đọc sự cô độc. Nhịp thơ chậm rãi gợi cảm giác thời gian như ngưng đọng, nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm rồi lại cuốn rèm lên. Những hành động của nàng được lặp đi lặp lại một cách vô thức, nàng hướng về nơi biên ải mong ngóng tin tức nhưng chẳng được hồi đáp. Hình ảnh chim thước là loài chim mang những điều may mắn, nàng muốn nhờ chim thước gửi gắm những yêu thương, mòn mỏi đến với người chồng đang chinh chiến ngoài biên ải.

"Trong rèm dường đã có đèn biết chăng"

 Trong nỗi bồn chồn ấy, nàng muốn có người để tâm sự, nhưng sự thật đau đớn rằng, lắng nghe nàng chỉ có một ngọn đèn vô tri:

" Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

Buồn rầu chẳng nói nên lời

Hoa đèn kia với bóng người khá thương".

Nhìn ngọn đèn trong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàn chợt liên tưởng tới tình cảnh của mình. Ngọn đèn vừa chứng kiến vừa soi tỏ nỗi cô đơn của người phụ nữ xa chồng, khi đối mặt với ngọn đèn, những tâm trạng nhớ nhung được bộc lộ. Hoa đèn chính là hình ảnh độc đáo, nó vừa mang tính tả thực đó là khi cái bấc đèn cháy hết, chỉ còn lại hoa đèn, hình ảnh tượng trưng đó là hình ảnh người chinh phụ mòn mỏi chờ chồng. Nếu như trong các tác phẩm khác, hình ảnh ngọn đèn chính là sự sống, nhưng trong chinh phụ ngân, nó chính là sự hiện diện của nỗi cô đơn, lẻ loi. Nỗi niềm ấy đè nén trong lòng người chinh phụ, trở thành nỗi "bi thiết" không thể diễn tả thành lời. Bức chân dung người phụ nữ đáng thương ấy không chỉ được miêu tả qua bước chân, động tác, cử chỉ mà còn hiện lên với sự vô cảm với thời gian và không gian.

 "Gà eo óc gáy sương năm trống

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên"

Hình ảnh "gà gáy", "hoè" đều là những hình ảnh quen thuộc ở làng quê Việt Nam. Ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh "hoè" trong thơ của Nguyễn Trãi:

"Hoè lục đùn đùn tán rợp giương"- Cảnh ngày hè

Nếu như trong thơ của Nguyễn Trãi hình ảnh cây hoè tràn ngập sức sống mãnh liệt, thì ở Chinh phụ ngâm, dưới con mắt u sầu của người chinh phụ, nó trở lên ảm đạm, không có sức sống. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, hình ảnh "bóng hoè phát phơ" cùng âm thanh "tiếng gà gáy eo óc" như càng thêm tô đậm nỗi cô đơn, triền miên của nhân vật trữ tình. "eo óc", "phất phơ" diễn tả không gian tang tóc, nỗi chán trường. Nàng đã thức trọn năm canh, nàng ngóng chờ hình ảnh của người chồng.

 "Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tự miền biển xa"

Chỉ với hai từ láy "dằng dặc" và "đằng đẵng" nhưng tác giả đã thành công diễn đạt sự mệt mỏi của người chinh phụ. Khi chồng ra đi, đối với một người phụ nữ, từng giờ khắc trô qua kéo dài như một năm, những nỗi nhớ nhung, lo âu như tích tụ đè nặng tâm hồn người chinh phụ. Nàng phải tự mình cứu lấy tâm hồn đang héo hon của nàng:

"Hương gượng đốt hồn đà mê mải

Gương gượng soi lệ lại châu chan

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng".

Điệp từ "gượng" được lặp lại ba lần diễn tả những hành động làm một cách thụ động. Nàng muốn đốt hương để tìm kiếm hơi ấm trong không gian cũng như tâm hồn lạnh lẽo của mình, nhưng tâm trí lại miên man suy nghĩ. Khi nhìn vào gương, nàng bật khóc vì hình ảnh khuôn mặt vì ngóng chờ tin chồng mà héo hon gầy gò. Muốn đàn một khúc để nhớ về những tháng ngày hạnh phúc năm xưa nhưng một loạt nỗi lo ập tới, nỗi sợ "đứt", "chùng", nàng sợ sẽ có chuyện chẳng lành đối với chồng mình. Tình cảnh thật đáng thương, nàng muốn tìm một chút an ủi thể xác và tâm hồn, nhưng nỗi lo sợ đã lấn át nàng, không cho nàng cơ hội xoa dịu tâm trạng.

Sống trong tình cảnh ấy, nàng chỉ biết nhớ về người chồng nơi biên ải xa xôi với một tấm lòng chung thuỷ:

"Lòng này gửi gió đông có tiện

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non yên dù chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời".

Nhớ chồng nhưng chẳng còn cách nào khác, người chinh phụ đành phải gom nhặt những nhớ thương, lòng thuỷ chung gửi vào  trong gió, nhờ gió xuân ấm ám mang tới nơi biên ải xa xôi. Những hình ảnh ước lệ tượng trưng "gió đông", "non Yên", "trời thăm thẳm" gợi không gian bao la, rộng lớn vô tận, nói lên khoảng cách xa xôi giữa đôi nam nữ. Hình ảnh đó vừa biểu đạt được tấm lòng chân thành, nỗi nhớ nhung vô hạn của người chinh phụ, phải chăng ngọn gió đông đã đánh thức tâm hồn khô héo của nàng. Hình ảnh ẩn dụ "nghìn vàng" nói đến sự giữ gìn tiết hạnh của nàng đối với chồng mãi mãi một lòng thuỷ chung.

 "Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong"

Hai từ láy "thăm thẳm" và "đau đáu" đã biệt đạt trực tiếp sắc thái nhớ thương của người chinh phụ. Từ "thăm thẳm" gợi nỗi nhớ nhung dài đằng đẵng, triền miên, "đau đáu" miêu tả độ sâu của nỗi nhớ, hình ảnh trời xanh xa vời nói lên sự bất lực của nàng, nàng không biết đâu là bến bờ, chẳng biết khi nào chồng trở về.

" Cảnh buồn người thiết tha lòng

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun"

 Người chinh phụ ấy khao khat được sẻ chia nỗi lòng với cảnh vật, tìm sự đồng cảm nhưng nhận lại là sự cô vọng "sương đượm" như nói lên cõi lòng nàng đã băng giá, "mưa phun" có lẽ là tiếng lòng nàng vỡ nát. Cảnh vật xung quanh chính là tâm trạng của nhân vật trữ tình. 

Đọc đoạn trích ta cứ ngỡ chỉ miêu tả tình cảnh lẻ loi, thể hiện tâm trạng khát khao hạnh phúc của người phụ nữ, nhưng ẩn sâu trong đó là sự chán ghét chiến tranh, chính chiến tranh đã chia rẽ tình yêu của họ.

Việc liên tiếp sử dụng hình ảnh so sánh, câu hỏi tu từ hình ảnh ước lệ, điệp từ cùng bút pháp tả cảnh ngụ tình đã bộc lộ tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Những câu thơ như chất chứa nỗi đau, nỗi nhớ và khát khao hạnh phúc đôi lứa.

Những vần thơ khép lại nhưng nỗi đau của người chinh phụ vẫn còn đó, niềm khao khát về một hạnh phúc trở thành niềm khát khao của cả một thời đại. Đoạn trích là tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

Trên đây là mẫu bài văn phân tích tình cản lẻ loi của người chinh phụ hay nhất mà Luật Minh Khuê muốn gửi tới bạn đọc. Chúc các bạn học tốt.