CƠ SỞ PHÁP LÝ:

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
  2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
  3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
  4. Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13

NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Giới thiệu chung về vấn đề:

Trên thực tế hiện nay đã có rất nhiều cặp hôn nhân cùng giới tính, họ chung sống với nhau như những cặp vợ chồng bình thường. Một số nước đã thừa nhận hôn nhân của họ là hợp pháp, một số khác thì không thừa nhận, số khác thì cấm cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Điều này cũng là một vấn đề khó khăn và nan giải đối với Việt Nam, cấm hay thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính? Và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã khẳng định rõ điều này. Việt Nam không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Để làm rõ hơn vấn đề này, bạn có thể tham khảo nội dung dưới đây về: “Phân tích và đánh giá quy định không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

2. Khái quát về người đồng tính:

2.1 Về giới tính:

Giới tính là tất cả những điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ. Theo đó, cùng giới tính là những người có đặc điểm sinh học giống nhau, có thể cùng là nam hoặc cùng là nữ. Bên cạnh đó, giới tính là một đặc điểm nhân thân không thể thiếu khi tiến hành kết hôn - đây là yếu tố nhằm phân biệt giữa nam, nữ, việc xác định này dựa vào yếu tố sinh học của từng cá thể. Trên thực tế, những năm gần đây do sự phát triển và hội nhập với thế giới, vấn đề tự do trở thành nhu cầu tất yếu, được xã hội nhìn nhận theo chiều hướng mở. Những người đồng tính đã công khai giới tính của mình trong xã hội, và họ cũng được hưởng một số quyền lợi như những người bình thường khác.

2.2 Cách hiểu về đồng tính:

Đồng tính không phải là một căn bệnh, bởi tổ chức y tế thế giới (WHO) đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh năm 1990. Người LGBT là từ viết tắt của cụm từ Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender/ Transgender people (đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng giới, hoán tính/ chuyển đổi giới tính). Như vậy, có thể hiểu người đồng tính là người không khiếm khuyết, lệch lạc về giới tính nhưng họ có nhu cầu tình dục với người cùng giới tính với mình. Có đồng tính nam và có đồng tính nữ. chuyển giới là người có cấu trúc giới tính hoàn thiện về mặt sinh học nhưng họ khát khao được mang giới tính khác với giới tính mình sinh ra. Ví dụ: Một người là nam nhưng luôn suy nghĩ mình là nữ và mong muốn được chuyển đối giới tính bằng cách phẫu thuật, tiêm hooc môn. Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 08 năm 2008 về xác định lại giới tính đã quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Do vậy, xét về sinh học sẽ có người giới tính không rõ ràng, có người lưỡng tính (Nam lưỡng giới giả nữ: a) Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng; b) Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên; Nữ lưỡng giới giả nam: a) Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn; b) Nhiễm sắc thể giới tính là XX; Lưỡng giới thật: a) Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng; b) Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; XXX/XY; XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật) .... Hiện nay, Nhà nước chưa có luật về giới tính dẫn đến khó khăn trong việc xác định thế nào là người cùng giới tính đối với đối tượng không phải là nam cũng không phải là nữ.

Người đồng tính làm việc ở tất cả các loại hình cơ quan ở mọi ngành nghề chứ không phải chỉ có ở văn hóa nghệ thuật và giải trí, vì báo chí chỉ tập trung vào nhóm showbiz, nên tạo cảm giác có nhiều người đồng tính ở lĩnh vực đó. Hiện nay internet đã trở thành công cụ hữu hiệu để cộng đồng người đồng tính kết nối với nhau như: www.facebook.com; www.taoxanh.net; www.tinhyeutraiviet.com; www.vuontinhnhan.net; www.thegioithuba.vn;… họ kết nối không chỉ trong nước mà ra cả nước ngoài, họ công khai giới tính của mình. Một số cuộc biểu tình của những người đồng tính đòi quyền lợi đã diễn ra.

3. Quy định về hôn nhân giữa những người cùng giới tính theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam:

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời ngày 02 tháng 09 năm 1945, cùng với sự phát triển về mọi mặt, hệ thống pháp luật Việt nam cũng đã có sự phát triển lớn. Đó là bản Hiếp pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1946. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời với bốn nguyên tắc cơ bản, trong đó có nguyên tắc hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ một chồng. Để đảm bảo nguyên tắc đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định các điều kiện kết hôn, cấm kết hôn nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc dân chủ, tiến bộ. Luật Hôn nhân gia đình 1959 chỉ quy định con trai, con gái được quyền kết hôn, không nói đến quyền kết hôn của người đồng tính với nhau và cũng không có quy định cấm người đồng tính kết hôn với nhau. Tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định cấm kết hôn trong các trường hợp: giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, tiếp tục kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ban hành nhằm xây dựng gia đình mới thực sự dân chủ, tiến bộ. Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định cấm kết hôn trong những trường hợp: người đang có vợ, có chồng; người mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; người đang mắc bệnh hoa liễu; giữa những người có cùng dòng máu trực hệ, giữa anh, chị, em cùng cha mẹ; cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi. Luật hôn nhân và gia đình 1986 cũng chỉ quy định quyền kết hôn của nam và nữ mà không có sự thừa nhận hay cấm kết hôn của người đồng tính với nhau.

Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 04 năm 1992 công nhận hình thức sở hữu tư nhân, phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không phù hợp. Do đó, ngày 06 tháng 09 năm 2000 Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mới thay cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Luật này chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2001. Ở luật này thể hiện sự điều chỉnh, bổ sung rất đáng kể so với luật trước. Tại khoản 5 Điều 10Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”. Lần đầu tiên việc kết hôn giữa những người cùng giới tính được đề cập trong Luật Hôn nhân và gia đình, nó xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội đã xuất hiện một số cặp cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng, điều này là trái với đạo đức, truyền thống của người Việt Nam. Đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của pháp luật để góp phần bảo vệ nền tảng đạo đức, sự trong sáng, lành mạnh trong quan hệ gia đình, thể hiện bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam.

Sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã có những thay đổi đáng kể cần có sự điều chỉnh phù hợp hơn của pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật này là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những bước tiến mới, thay đổi để phù hợp hơn với đời sống xã hội trong thời kỳ hiện nay. Đặc biệt, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn, tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây là sự nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay.

4. Kết luận:

Quy định về không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thể hiện được những điểm tiến bộ so với những luật trước đây, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của người dân, cũng như phù hợp với tình hình xã hội hiện nay. Quy định này đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới văn minh, tiến bộ hơn. Bên cạnh đó, mỗi người dân đều phải có trách nhiệm tuân theo những quy định của pháp luật nói chung và quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng, như vậy mới đảm bảo được gia đình hạnh phúc, bền vững, góp phần làm xã hội ngày càng văn minh, giàu mạnh hơn.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê