Luật sư hướng dẫn:

1. Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách sử dụng tiền tệ do cơ quan nhà nước có thẳm quyền quyết định nhằm thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, phát triển kinh tế hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trong từng giai đoạn cụ thể. Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 quy định:

1. Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết dịnh sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.

2. Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

3. Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán, kí kết, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

4. Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm. Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ, và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

2. Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ quản lí và duy trì trật tự cho các hoạt động ngân hàng

Trong thời đại ngày nay sự ổn định và phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia gắn liền với vai trò tác động tích cực của nhà nước. Lĩnh vực ngân hàng là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và sự vận động của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Bởi vì, lĩnh vực ngân hàng là nơi diễn ra quá trình tích tụ, điều hoà nhiều nguồn vốn, là nơi thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Mặt khác, các quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng phần lớn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao và liên quan đến lợi ích của nhiều loại chủ thể trong nền kinh tế.

Sự phát triển ở các quốc gia đã chỉ ra rằng, sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng là một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển. Đe tạo lập hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn và phát huy vai trò tích cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội đòi hỏi nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp sử dụng pháp luật.

Pháp luật được nhà nước sử dụng làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng, tạo lập những chuẩn mực chọ việc tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Điều đó thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, nhà nước sử dụng pháp luật để quản lí nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế. Đe quản lí nhà nước đối với các hoạt động này, trong các văn bản pháp luật nhà nước quy định các điều kiện hoạt động ngân hàng; điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quy định nhiệm vụ, quyền hạn quản lí nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam V.V..

Thứ hai, nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ để xây dựng hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Do tính phức tạp của nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng và những tác động của các hoạt động kinh doanh ngân hàng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội nên phương thức tổ chức kinh doanh ngân hàng không thể hình thành và tồn tại theo kiểu tự phát. Thực tiễn ở nhiều nước đã chỉ ra rằng, bằng công cụ pháp luật nhà nước phải định hình mô hình tổ chức của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Ở đây cần thấy rằng, pháp luật với khả năng sáng tạo, dẫn đường có khả năng định hình mô hình tổ chức cho hệ thống ngân hàng, tồ chức tín dụng. Chẳng hạn, ở nước ta chỉ sau khi nhà nước ban hành Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990, mô hình ngân hàng cổ phần mới được thành lập.

Ở mỗi quốc gia, sự ghi nhận bằng pháp luật các hình thức tổ chức của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng do nhu câu cùa đời sống xã hội và mục tiêu chiến lược phát triển kinh tể xã hội của nhà nước quyết định.

Ở nước ta, chính sách của Nhà nước về xây dựng các loại hình tổ chức tín dụng được ghi nhận ở Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

Thứ ba, Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế.

Do sự tiềm ẩn nguy cơ rủi ro và sự tác động có tính dây chuyền của các hoạt động kinh doanh ngân hàng nên đòi hỏi nhà nước phải sử dụng pháp luật làm công cụ kích thích những tác động tích cực, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực, bảo đảm an toàn cho loại hình hoạt động này ữong nền kinh tế.

Để bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế, nhà nước sử dụng pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này theo phương thức riêng. Điều đó thể hiện ở chỗ, ngoài các quy định bảo đảm quyền tự chủ trong kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh ngân hàng, nhà nước còn ban hành các quy định mang tính hạn chế và tính kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các loại chủ thể này. Chẳng hạn, Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối vớímột khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô.

Thứ tư, Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ ngăn ngừa, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng.

Hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng có thể dẫn tới các tranh chấp phát sinh giữa các tổ chửc này với nhau hoặc với khách hàng hoặc với các cơ quan nhà nước.

Các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp V.V.. góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng, góp phần duy trì trật tự cho các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế.

3. Nhà nước thành lập và sử dụng hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng nhà nước

Để thực hiện chính sách kinh tế-xã hội về ngân hàng, nhà nước sử dụng nhiều công cụ và biện pháp, trong đó có việc thành lập các ngân hàng và các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao. Các tổ chức này gồm có: Ngân hàng nhà nước Việt Nam (ngân hàng trung ương), các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng chính sách và các loại hình tổ chức tín dụng nhà nước khác. Hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao nên các ngân hàng, tổ chức tín dụng nhà nước đóng vai trò là công cụ của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng của Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo này thể hiện ở chỗ, hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng nhà nước hoạt động trên tất cả các lĩnh vực ngân hàng với quy mô hoạt động rộng nên có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế và có tác động chi phối đổi với các hoạt động ngân hàng của các thành phần kinh tế khác.

4. Nhà nước kích thích sự phát triển của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng

Sự phát triển của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các tác động mang tính khuyến khích cùa nhà nước có ảnh hưởng rất lớn. Các tác động mang tính khuyến khích của nhà nước thể hiện trên nhiều phương diện đối với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng như tạo môi trường kinh tế, môi trường pháp lí; thực hiện các tác động trực tiếp bằng chính sách thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi thuế V.V..

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước là gì?

1. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

3. Xây dựng chiến lược phát triển ngành ngân hàng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.

4. Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; tuyên truyền, phổ biến và kiểm tra theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.

5. Xây dựng chỉ tiêu lạm phát hằng năm để Chính phủ trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện.

6. Tổ chức, điều hành và phát triển thị trường tiền tệ.

7. Tổ chức hệ thống thống kê, dự báo về tiền tệ và ngân hàng; công khai thông tin về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật.

8. Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền giấy, tiền kim loại; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền giấy, tiền kim loại.

9. Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các tổ chức không phải là ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

10. Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

11. Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật.

12. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của tổ chức tín dụng; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tín dụng; đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với tổ chức tín dụng.

13. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng, chống rửa tiền.

14. Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

15. Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế.

16. Tổ chức, quản lý, giám sát hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; tham gia tổ chức và giám sát sự vận hành của các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế.

17. Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng.

18. Quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước.

19. Quản lý việc vay, trả nợ, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật.

20. Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan chuẩn bị nội dung, tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế với tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế mà Ngân hàng Nhà nước là đại diện và là đại diện chính thức của người vay quy định tại điều ước quốc tế theo phân công, uỷ quyền của Chủ tịch nước hoặc Chính phủ.

21. Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về tiền tệ và ngân hàng.

22. Đại diện cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế.

23. Tổ chức hệ thống thông tin tín dụng và cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng; thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng.

24. Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước.

25. Tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh.

26. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về tiền tệ và ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ ngân hàng.

27. Nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật ngân hàng, hoạt động ngân hàng Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật ngân hàng - Công ty luật Minh Khuê