- 2. Khi chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau thì các bên có quyền và nghĩa vụ gì?
- Trả lời:
- Theo quy định tại Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung sau đây:
- - Tên, địa chỉ của các bên;
- - Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- - Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
- - Thời hạn sử dụng đất của bên chuyển nhượng; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên nhận chuyển nhượng;
- - Giá chuyển nhượng;
- - Phương thức, thời hạn thanh toán;
- - Quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng;
- - Các thông tin khác liên quan đến quyền sử dụng đất;
- - Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
- 8. Do vợ bị ốm, nhà neo người nên ông Đ cho bà V thuê 2,5 ha đất chuyên trồng lúa nước với thời hạn ba năm. Bà V không trồng lúa trên diện tích này như thoả thuận mà chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, bị cơ quan nhà nước ra quyết định thu hồi diện tích đất nói trên. Lấy lý do đất đã bị thu hồi nên bà V không trả tiền thuê cho ông Đ. Ông Đ cũng không có đất để tiếp tục canh tác khi vợ khỏi bệnh, phải chịu nhiều thiệt hại. Ông Đ có quyền yêu cầu bà V bồi thường thiệt hại không ?
- Trả lời:
- Khoản 1 Điều 710 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Khi bên cho thuê hoặc bên thuê cố ý vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất dẫn đến việc Nhà nước thu hồi đất thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Bà V cố ý vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất dẫn đến việc Nhà nước thu hồi, gây thiệt hại cho ông Đ. Thiệt hại này hoàn toàn do lỗi của bà V. Theo quy định tại khoản 1 điều nói trên, ông Đ có quyền yêu cầu bà V bồi thường thiệt hại.
- - Yêu cầu bên tặng cho giao đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận;
- Trả lời:
I. CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO, SINH VIÊN, NÔNG DÂN, NGƯ DÂN, ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1. Tôi là ngư dân. Xin hỏi nếu tôi mua mới tàu đánh bắt hải sản thì có được Nhà nước hỗ trợ không? Nếu được thì mức hỗ trợ là bao nhiêu và hồ sơ hỗ trợ bao gồm những giấy tờ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 35/2008/TT-BTC ngày 25/4/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, Thông tư số 71/2008/TT-BTC ngày 30/7/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 965/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung các Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008, Quyết định số 602/QĐ-TTg ngày 22/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ và sửa đổi, bổ sung Thông tư số 35/2008/TT-BTC ngày 25/4/2008 của Bộ Tài chínhthì nếu ngư dân thực hiện mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản có công suất máy từ 90 CV trở lên; thực hiện mua mới, đóng mới tàu cung ứng dịch vụ cho tàu đánh bắt hải sản (Tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản là các tàu thu mua hải sản, cung ứng vật tư, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm, cung cấp nước đá, tàu vận chuyển, chế biến hải sản cho các tàu đánh bắt hải sản trên các vùng biển) thì được hưởng chính sách hỗ trợ.
Điều kiện được hỗ trợ:
-Tàu mua mới, đóng mới có công suất từ 90CV trở lên, đã hoàn thành thủ tục đăng kiểm, đăng ký, có giấy phép khai thác hải sản (đối với tàu đánh bắt hải sản) hoặc giấy đăng ký kinh doanh (đối với tàu làm dịch vụ), đã hoàn thành việc mua bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên.
- Tàu mua mới, đóng mới phải có máy mới 100% và đạt các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Ngư dân có địa chỉ cư trú hợp pháp, có hoạt động đánh bắt hải sản được Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn xác nhận.
Mức hỗ trợ: mỗi chiếc tàu mua mới, đóng mới được Nhà nước hỗ trợ 70.000.000 đồng/tàu/năm.
Thời gian thực hiện hỗ trợ:
- Đối với những tàu được mua mới, đóng mới trong năm 2008, thời gian được hỗ trợ từ năm 2008 đến 2010.
- Đối với tàu được mua mới, đóng mới trong năm 2009, thời gian được hỗ trợ từ năm 2009 đến 2010.
- Đối với tàu được mua mới, đóng mới trong năm 2010, thời gian được hỗ trợ trong năm 2010.
Hồ sơ hỗ trợ:
- Ngư dân thuộc đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ, đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định, lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ như sau:
+ Đơn đề nghị hỗ trợ mua mới, đóng mới tàu có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về địa chỉ cư trú hợp pháp và có tiến hành hoạt động khai thác hải sản trên biển.
+ Bản sao có công chứng hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về các giấy tờ: Giấy đăng ký tàu cá hoặc Giấy xác nhận đã đăng ký tàu cá (đối với tàu dưới 20 CV), giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá hoặc sổ chứng nhận khả năng hoạt động tàu cá (đối với tàu 20 CV trở lên), giấy phép khai thác thuỷ sản đối với tàu đánh bắt hải sản hoặc giấy đăng ký kinh doanh đối với tàu làm dịch vụ, giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn thuyền viên còn hiệu lực.
+ Bản sao về các giấy tờ liên quan đến việc xác định máy tàu mới 100% đạt các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật theo qui định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Việc hỗ trợ được tiến hành hàng năm, ngư dân đề nghị hỗ trợ cho năm nào thì lập hồ sơ cho năm đó (mỗi năm lập hồ sơ một lần).
2. Tôi được biết Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngư dân để thay máy tàu sang loại máy tiêu hao ít nhiên liệu hơn. Xin hỏi điều kiện được hỗ trợ và mức hỗ trợ đối với trường hợp này như thế nào?
Trả lời
Theo quy định tại Thông tư số 35/2008/TT-BTC ngày 25/4/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân thì nếu ngư dân là chủ sở hữu của tàu đánh bắt hải sản có công suất máy từ 40CV trở lên hoặc chủ sở hữu tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản thực hiện thay máy cũ, lắp máy mới có mức tiêu hao nhiên liệu ít hơn sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ.
Điều kiện được hỗ trợ:
- Tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác hải sản đã hoàn thành thủ tục đăng kiểm, đăng ký, có giấy phép khai thác hải sản, tham gia mua bảo hiểm thân tàu.
- Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi ngư dân cư trú xác nhận hoạt động đánh bắt hải sản, hoạt động dịch vụ thường xuyên trên biển.
- Máy được lắp đặt phải mới 100% và đạt các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Mức hỗ trợ:
- Đối với máy tàu có công suất từ 40CV đến dưới 90CV: hỗ trợ 10.000.000 đồng/máy/năm.
- Đối với máy tàu có công suất từ 90CV trở lên: hỗ trợ 18.000.000 đồng/máy/năm.
Thời gian thực hiện hỗ trợ:
- Đối với những máy tàu mới được lắp đặt mới trong năm 2008, thời gian được hỗ trợ từ năm 2008 đến 2010.
- Đối với những máy tàu mới được lắp đặt mới trong năm 2009, thời gian được hỗ trợ từ năm 2009 đến 2010.
- Đối với những máy tàu mới được lắp đặt mới trong năm 2010, thời gian được hỗ trợ trong năm 2010.
Từ năm 2008 đến hết năm 2010, sau khi đã được Nhà hỗ trợ tiền thay máy mới 100%, ngư dân không được hỗ trợ để thay máy mới khác.
3. Tôi là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản công suất 90CV đang hoạt động đánh bắt hải sản tại vùng biển QN. Đầu năm 2008, tôi đã mua bảo hiểm thân tàu, mua bảo hiểm tai nạn cho các thuyền viên làm việc theo hợp đồng lao động dài hạn trên tàu. Xin hỏi tôi có được Nhà nướchỗ trợ phí bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho các thuyền viên làm việc trên tàu không?Nếu đủ điều kiện thì hồ sơ hỗ trợ bao gồm những giấy tờ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 71/2008/TT-BTC ngày 30/7/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 965/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung các Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008, Quyết định số 602/QĐ-TTg ngày 22/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ và sửa đổi, bổ sung Thông tư số 35/2008/TT-BTC ngày 25/4/2008 của Bộ Tài chínhthì ông đủ điều kiện để được Nhà nước hỗ trợ kinh phí bảo hiểm thân tàu và kinh phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho các thuyền viên làm việc trên tàu.
Thông tư số 71/2008/TT-BTC quy định cụ thể việc hỗ trợ về kinh phí bảo hiểm thân tàu cho tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản có công suất máy từ 40CV trở lên; hỗ trợ kinh phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho các thuyền viên trên các tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản như sau:
a) Điều kiện được hỗ trợ:
- Tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản đã hoàn thành thủ tục đăng ký, đăng kiểm, có giấy phép khai thác thuỷ sản.
- Đối với việc hỗ trợ kinh phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên, chủ tàu mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên theo sổ danh bạ thuyền viên, hoặc danh sách thuyền viên, hoặc hợp đồng lao động với thuyền viên, hoặc theo định biên số thuyền viên trong giấy phép khai thác thuỷ sản.
b) Mức hỗ trợ:
- Nhà nước hỗ trợ 30% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu cho các tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản có công suất từ 40 CV trở lên.
- Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho các thuyền viên làm việc trên tàu đánh bắt hải sản, tàu dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản.
c) Thời gian thực hiện hỗ trợ:
- Chủ tàu mua bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm tai nạn thuyền viên năm nào thì được hỗ trợ kinh phí năm đó.
- Thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ về kinh phí bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn thuyền viên từ năm 2008 – 2010.
d) Hồ sơ hỗ trợ:
- Đối với hỗ trợ kinh phí bảo hiểm thân tàu: chủ tàu lập hồ sơ như sau:
+ Đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí bảo hiểm thân tàu có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về địa chỉ cư trú và có tiến hành hoạt động khai thác hải sản, hoặc dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản trên biển (theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).
+ Bản sao có công chứng hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về các giấy tờ: giấy đăng ký tàu cá; giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá hoặc sổ chứng nhận khả năng hoạt động tàu cá; giấy phép khai thác thuỷ sản (đối với tàu khai thác hải sản).
+ Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu còn hiệu lực đến ngày chủ tàu nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ.
- Đối với hỗ trợ kinh phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên: chủ tàu lập hồ sơ như sau:
+ Đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí bảo hiểm tai nạn thuyền viên có xác nhận Uỷ ban nhân dân cấp xã (theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).
+ Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn thuyền viên còn hiệu lực đến ngày chủ tàu nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ.
- Việc đề nghị hỗ trợ được tiến hành theo năm, chủ tàu đề nghị hỗ trợ phí bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho năm nào thì lập hồ sơ cho năm đó.
4 Những đối tượng nào được hỗ trợ các dịch vụ cải thiện và nâng cao đời sống, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 ?
Trả lời:
Theo Thông tư số 06/2007/TT-UBDT ngày 20/9/2007 của Ủy ban Dân tộc thì phạm vi, đối tượng được hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 được quy định cụ thể như sau:
- Về phạm vi : Các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), xã biên giới, xã an toàn khu và thôn, bản, buôn, làng, xóm, ấp (sau đây gọi tắt là thôn, bản) đặc biệt khó khăn ở các xã khu vực II (KV II) thuộc diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II theo các quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Đối tượng thụ hưởng:
a) Học sinh là con hộ nghèo (chuẩn hộ nghèo theo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ) đang sinh sống tại các xã, thôn ĐBKK ở xã KV II (có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, không yêu cầu phải có đăng ký thường trú hộ khẩu) thuộc phạm vi Chương trình 135 theo các quyết định của cấp có thẩm quyền, cụ thể như sau:
- Học sinh mẫu giáo trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi đang đi học tại các trường, lớp mẫu giáo trong và ngoài xã;
- Học sinh các lớp thuộc hệ phổ thông: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông do điều kiện trường, lớp học ở xa gia đình, đi lại khó khăn phải thoát ly gia đình đến ăn, ở tập trung tại trường, lớp hoặc khu vực xung quanh trường, lớp phải tự lo chi phí sinh hoạt, tiền ăn thì được thụ hưởng chính sách, còn những học sinh chỉ ở trường, lớp một buổi trưa và đi, về trong ngày và học sinh học các trường phổ thông dân tộc nội trú theo quy định của Nhà nước không thuộc diện đối tượng thụ hưởng chính sách này.
b) Hộ nghèo đã có nhà ở ổn định, hiện tại chưa có nhà vệ sinh, hoặc nhà vệ sinh tạm bợ; chuồng trại chăn nuôi gia súc sát nhà ở không đảm bảo điều kiện vệ sinh có nhu cầu làm nhà vệ sinh, di chuyển chuồng trại để cải thiện môi trường được hỗ trợ kinh phí để cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường;
c) Các xã và các thôn, bản ĐBKK ở xã KV II thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II theo các quyết định của cấp có thẩm quyền được thụ hưởng chính sách hỗ trợ hoạt động Văn hoá, Thông tin và hỗ trợ trợ giúp pháp lý.
5. Xin cho biết Nhà nước có những chính sách gì để hỗ trợ nâng cao đời sống nhân dân thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010?
Trả lời:
Các chính sách hỗ trợ nâng cao đời sống nhân dân thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 bao gồm:
a) Hỗ trợ học sinh con hộ nghèo:
- Hỗ trợ tiền ăn cho con hộ nghèo đi học tại các lớp mẫu giáo.
Mức hỗ trợ: 70.000 đồng/tháng, thời gian được hưởng theo thực tế thời gian học, nhưng không quá 9 tháng/năm học.
- Hỗ trợ học sinh bán trú là con các hộ nghèo đang theo học tại các trường Tiểu học,Trung học cơ sở (THCS), Trung học phổ thông (THPT) về tiền ăn và dụng cụ học tập. Mức hỗ trợ: 140.000 đồng/tháng, thời gian được hưởng theo thực tế thời gian học và không quá 9 tháng/năm học.
b) Hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi trường:
Hỗ trợ 1 lần (trong giai đoạn thực hiện chương trình) cho các hộ nghèo mua vật liệu để nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, làm mới hoặc di chuyển chuồng trại và nhà vệ sinh. Mức hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ.
c) Hỗ trợ hoạt động Văn hoá, Thông tin cho các xã và thôn, bản đặc biệt khó khăn ở xã KV II:
Hỗ trợ một số hoạt động sinh hoạt cộng đồng ở xã và thôn, bản: Tổ chức lễ hội văn hoá, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, vui chơi thể thao, mít tinh tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước;
Mức hỗ trợ: 2 triệu đồng/năm cho một xã; 0,5 triệu đồng/năm cho một thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc xã KVII.
d) Hỗ trợ trợ giúp pháp lý, nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo:
Nguồn vốn từ ngân sách trung ương của Chương trình 135 giai đoạn II hỗ trợ 2 triệu đồng/năm/xã; 0,5 triệu đồng/năm/thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc xã KVII để tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý.
Ngân sách địa phương hỗ trợ đảm bảo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động và cung cấp tài liệu pháp luật, thông tin pháp luật cho người nghèo
6. Tôi là sinh viên có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Xin hỏi tôi có được hưởng chính sách tín dụng của Nhà nước đối với học sinh, sinh viên không? Để được vay vốn thì tôi cần phải có điều kiện gì?
Trả lời:
Điều 2 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì đối tượng được vay vốn quy định như sau:
Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm:
1. Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động.
2. Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng:
- Hộ nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật.
- Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định của pháp luật.
3. Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
Như vậy, để được hưởng chính sách tín dụng của Nhà nước đối với học sinh, sinh viên, anh (chị) phải thuộc một trong các đối tượng nêu trên, đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương nơi cho vay, đồng thời phải có các điều kiện sau:
- Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường.
- Đối với học sinh, sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.
7. Tôi là sinh viên và thuộc đối tượng được vay vốn theo chính sách tín dụng của Nhà nước đối với học sinh, sinh viên. Xin hỏi tôi có được trực tiếp đứng ra để vay vốn không?
Trả lời:
Theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì phương thức cho vay được pháp luật quy định như sau:
- Việc cho vay đối với học sinh, sinh viên được thực hiện theo phương thức cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở.
- Giao Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay đối với học sinh, sinh viên.
8. Mức vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên được Nhà nước quy định như thế nào?
Trả lời
Theo Điều 5 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì mức vốn cho vay được quy định như sau:
1. Mức vốn cho vay tối đa là 800.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên.
2. Ngân hàng Chính sách xã hội quy định mức cho vay cụ thể đối với học sinh, sinh viên căn cứ vào mức thu học phí của từng trường và sinh hoạt phí theo vùng nhưng không vượt quá mức cho vay quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Khi chính sách học phí của Nhà nước có thay đổi và giá cả sinh hoạt có biến động, Ngân hàng Chính sách xã hội thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức vốn cho vay.
9. Học sinh, sinh viên vay vốn có được hưởng lãi suất cho vay ưu đãi không? Lãi xuất cho vay, việc trả nợ gốc và lãi tiền vay đối với học sinh, sinh viên được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 7, Điều 9, Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì lãi suất cho vay và việc trả nợ gốc và lãi tiền vay được quy định như sau:
a/ Lãi suất cho vay :
1. Lãi suất cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là 0,5%/tháng.
2. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.
b/ Trả nợ gốc và lãi tiền vay :
1. Trong thời hạn phát tiền vay đối tượng được vay vốn chưa phải trả nợ gốc và lãi; lãi tiền vay được tính kể từ ngày đối tượng được vay vốn nhận món vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc.
2. Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên ngay sau khi học sinh, sinh viên có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học.
3. Mức trả nợ mỗi lần do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn và được thống nhất trong hợp đồng tín dụng.
10. Gia đình tôi được vay vốn để cho con đi học, đến kỳ trả nợ cuối cùng, gia đình tôi có khó khăn chưa trả được nợ. Xin hỏi chúng tôi có được gia hạ nợ không?
Trả lời:
Theo Điều 11 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì đến kỳ trả nợ cuối cùng, nếu gia đình ông (bà) có khó khăn chưa trả được nợ, phải có văn bản đề nghị gia hạn nợ thì được Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét cho gia hạn nợ cho đối tượng vay vốn; thời gian gia hạn nợ tối đa bằng 1/2 thời hạn trả nợ.
- Trường hợp đối tượng được vay vốn không trả nợ đúng hạn theo kỳ hạn trả nợ cuối cùng và không được phép gia hạn nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội chuyển thành nợ quá hạn. Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội có biện pháp thu hồi nợ.
- Ngân hàng Chính sách xã hội quy định cụ thể việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn trả nợ và chuyển nợ quá hạn.
11. Việc trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy được thực hiện theo nguyên tắc nào?
Trả lời:
Theo phần II, Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nôngnghiệp phát triển nông thôn-Bộ Tài chính hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy thì nguyên tắc trợ cấp gạo... được quy định như sau:
1.Việc trợ cấp gạo chỉ áp dụng đối với các hộ gia đình tự nguyện trồng rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất thay thế nương rẫy.
2. Mức gạo trợ cấp đảm bảo đủ ăn cho hộ gia đình trong thời gian chuyển nương rẫy sang trồng rừng và chưa có thu nhập khác thay thế hoặc có thu nhập khác nhưng chưa tương đương với thu nhập từ canh tác nương rẫy trên diện tích đó.
3. Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể mức trợ cấp gạo đối với từng loại đối tượng, thời gian và hình thức trợ cấp phù hợp tại địa phương.
12. Thời hạn và mức trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời
Theo điểm 1, 2, phần III Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nôngnghiệp phát triển nông thôn-Bộ Tài chính hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy thì thời hạn trợ cấp, mức trợ cấp được quy định như sau:
1. Thời hạn trợ cấp:
Bắt đầu từ khi ngừng canh tác nương rẫy để chuyển sang trồng rừng đến khi có thu nhập thay thế, nhưng tối đa không quá 7 năm.
2. Mức trợ cấp:
Mức trợ cấp gạo xác định cho từng hộ gia đình căn cứ vào diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi sang trồng rừng, mỗi ha không quá 700 kg/năm và mỗi khẩu được trợ cấp bình quân 10 kg/tháng. Mức cụ thể trên từng địa bàn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Đối với những hộ gia đình có số nhân khẩu nhiều nhưng tham gia chuyển đổi với diện tích nương rẫy ít, thì mức trợ cấp theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi mỗi ha không quá 700 kg/năm.
Đối với những hộ gia đình có số nhân khẩu ít nhưng tham gia chuyển đổi với diện tích nương rẫy nhiều, thì mức trợ cấp gạo tính theo khẩu là 10 kg/tháng.
Cách tính cụ thể như sau:
Ví dụ 1: Hộ gia đình A có 05 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng là 02 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quyết định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này như sau:
Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 02 ha = 1.400 kg/năm.
Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 05 khẩu = 600 kg/năm.
Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình A trong năm là 600 kg/năm.
Ví dụ 2: Hộ gia đình B có 7 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng là 0,3 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quyết định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này như sau:
Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 0,3 ha = 210 kg/năm.
Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 7 khẩu = 840 kg/năm.
Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình B trong năm là 210 kg/năm.
Ví dụ 3: Hộ gia đình C có 6 khẩu chuyển đổi diện tích nương rẫy sang trồng rừng năm 2008 là 0,5 ha. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quyết định mức trợ cấp gạo là 10 kg/khẩu/tháng. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này trong năm 2008 như sau:
Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 0,5 ha = 350 kg/năm.
Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 6 khẩu = 720 kg/năm.
Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2008 là 350 kg/năm.
Năm 2009 Hộ gia đình này tiếp tục chuyển 01 ha nương rẫy sang trồng rừng và số khẩu không thay đổi. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này năm 2009 như sau:
Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 1,5 ha = 1050 kg/năm.
Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 6 khẩu = 720 kg/năm.
Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2009 là 720 kg/năm.
Năm 2010 Hộ gia đình này tiếp tục chuyển đổi thêm 0,4 ha nương rẫy sang trồng rừng và số khẩu tăng thêm 01 khẩu. Xác định tổng mức gạo trợ cấp đối với hộ gia đình này năm 2010 như sau:
Xác định theo diện tích nương rẫy thực tế chuyển đổi: 700 kg x 1,9 ha = 1330 kg/năm.
Xác định theo số khẩu: 10 kg x 12 tháng x 7 khẩu = 840 kg/năm.
Tổng số gạo trợ cấp cho gia đình C trong năm 2010 là 840 kg/năm.
13. Việc trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy được thực hiện theo phương thức nào?
Trả lời:
Theo Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy được thực hiện theo phương thức sau:
a) Loại gạo trợ cấp là gạo tẻ thường, độ ẩm không quá 14%, không có sâu mọt, nấm, mốc.
Căn cứ quy định tại Thông tư này, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét, ưu tiên giải quyết loại gạo phù hợp với nhu cầu sử dụng hoặc được sản xuất tại địa phương.
b) Chủ đầu tư thực hiện việc mua gạo theo quy định của Bộ Tài chính về việc đấu thầu mua sắm tài sản bằng vốn nhà nước.
c) Chủ đầu tư tổ chức cấp gạo cho từng hộ gia đình trong vùng dự án theo định kỳ 01 (một) tháng một lần, tại mỗi thôn, bản nơi hộ gia đình cư trú. Tuỳ tình hình thực tế tại mỗi địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể quyết định định kỳ cấp gạo cụ thể, nhưng tối đa không quá 3 tháng một lần.
Căn cứ vào dự án được duyệt và hướng dẫn tại Thông tư này, chủ đầu tư thống nhất với Trưởng thôn lập danh sách các hộ gia đình, số lượng gạo trợ cấp cho từng hộ gia đình trong thôn.
Khi các hộ gia đình bắt đầu thực hiện việc trồng rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất thay thế nương rẫy thì chủ đầu tư mới tiến hành trợ cấp gạo.
Việc trợ cấp gạo phải có chữ ký của đại diện hộ gia đình nhận trợ cấp gạo; ký xác nhận của Trưởng thôn, bản; Uỷ ban nhân dân cấp xã sở tại ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên, chức danh.
II. NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
1. Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thực hiện dưới các hình thức nào?
Trả lời:
Điều 6 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2007 quy định các hình thức đi làm việc ở nước ngoài bao gồm:
1. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa ngườilao động đi làm việc ở nước ngoài;
3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
4. Hợp đồng cá nhân.
2. Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì những hành vi nào bị nghiêm cấm trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài?
Trả lời:
Theo Điều 7, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thì các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
1. Cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép) cho doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định của Luật này.
2. Sử dụng Giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người khác sử dụng Giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
3. Giao nhiệm vụ điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho người đã quản lý doanh nghiệp bị thu hồi Giấy phép hoặc người đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do vi phạm quy định của pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
4. Đi làm việc hoặc đưa người lao động đi làm việc ở khu vực, ngành, nghề và công việc bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc không được nước tiếp nhận người lao động cho phép.
5. Lợi dụng hoạt độngđưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài.
6. Lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tuyển chọn, đào tạo, thu tiền của người lao động.
7. Tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi chưa đăng ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này.
8. Sau khi nhập cảnh không đến nơi làm việc hoặc bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng.
9. Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động.
10. Lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định của pháp luật.
11. Gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người lao động hoặc doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
3. Thế nào là hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và hợp đồng lao động?
Trả lời:
Hợp đồng cung ứng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về điều kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.
Theo Điều 17, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thì hợp đồng cung ứng lao động, Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và hợp đồng lao động được quy định như sau:
1. Hợp đồng cung ứng lao động phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động và có những nội dung chính sau đây:
a) Thời hạn của Hợp đồng;
b) Số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài; ngành, nghề, công việc phải làm;
c) Địa điểm làm việc;
d) Điều kiện, môi trường làm việc;
đ) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
e) An toàn và bảo hộ lao động;
g) Tiền lương, tiền công, các chế độ khác và tiền thưởng (nếu có); tiền làm thêm giờ;
h) Điều kiện ăn, ở, sinh hoạt;
i) Chế độ khám bệnh, chữa bệnh;
k) Chế độ bảo hiểm xã hội;
l) Điều kiện chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
m) Trách nhiệm trả chi phí giao thông từ Việt Nam đến nơi làm việc và ngược lại;
n) Tiền môi giới (nếu có);
o) Trách nhiệm của các bên khi người lao động bị chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài;
p) Giải quyết tranh chấp;
q) Trách nhiệm giúp đỡ người lao động gửi tiền về nước.
2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và Hợp đồng lao động phải có các nội dung cụ thể, phù hợp với nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động. Các thỏa thuận về tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ của người lao động phải được ghi trong Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định mẫu và nội dung của Hợp đồng cung ứng lao động, Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với từng thị trường lao động.
4. Người lao động có phải hoàn trả cho doanh nghiệp khoản chi phí dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà doanh nghiệp đã trả cho bên môi giới để ký kết và thực hiện hợp đồng cung ứng lao động không?
Trả lời:
Theo Điều 20, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tiền môi giới là khoản chi phí mà doanh nghiệp dịch vụ phải trả cho bên môi giới để ký kết và thực hiện hợp đồng cung ứng lao động.
Người lao động có trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ tiền môi giới theo quy định của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.
5. Người lao động có thể nộp tiền dịch vụ cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài làm nhiều lần có được không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 21 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tiền dịch vụ là khoản chi phí mà người lao động phải trả cho doanh nghiệp dịch vụ để thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Phương thức thu tiền dịch vụ do doanh nghiệp dịch vụ thỏa thuận với người lao động, có thể thu một lần trước khi người lao động xuất cảnh hoặc thu nhiều lần trong thời gian người lao động làm việc ở nước ngoài.
6. Anh A đã nộp tiền dịch vụ cho cả thời gian làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài, nhưng nay phải về nước trước thời hạn do nhà máy thiếu việc làm. Vậy anh A có được hoàn trả số tiền đó không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 21 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì trong trường hợp người lao động đã nộp tiền dịch vụ cho cả thời gian làm việc theo hợp đồng mà phải về nước trước thời hạn không do lỗi của người lao động thì doanh nghiệp dịch vụ phải hoàn trả cho người lao động phần tiền dịch vụ theo tỷ lệ tương ứng với thời gian còn lại của Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì anh A được hoàn trả phần tiền dịch vụ theo tỷ lệ tương ứng với thời gian còn lại của Hợp đồng.
7. Khi hết thời hạn làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng, người lao động có được trả lại số tiền đã ký quỹ vào tài khoản của doanh nghiệp hay không? Số tiền ký quỹ được sử dụng như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 23 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người lao động thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ về việc ký quỹ theo quy định để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Người lao động trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp dịch vụ nộp tiền ký quỹ vào tài khoản riêng được doanh nghiệp mở tại ngân hàng thương mại để giữ tiền ký quỹ của người lao động.
Tiền ký quỹ của người lao động được hoàn trả cả gốc và lãi cho người lao động khi thanh lý hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tiền ký quỹ của người lao động được doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để bù đắp thiệt hại phát sinh do lỗi của người lao động gây ra cho doanh nghiệp; khi sử dụng tiền ký quỹ để bù đắp thiệt hại, nếu tiền ký quỹ không đủ thì người lao động phải nộp bổ sung, nếu còn thừa thì phải trả lại cho người lao động.
8. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài phải có các điều kiện gì?
Trả lời:
Theo Điều 42Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người lao động được đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài;
3. Có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt;
4. Đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;
5. Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và các điều kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;
6. Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết;
7. Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
9. Người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài thì nộp Hồ sơ cho cơ quan nào? Hồ sơ gồm những giấy tờ gì?
Trả lời:
Theo Điều 43Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thìviệcnộp hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài quy định như sau:
1. Người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài phải nộp hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài cho doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa đi làm việc ở nước ngoài.
2. Hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài gồm có:
a) Đơn đi làm việc ở nước ngoài;
b) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức;
c) Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp;
d) Văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, chuyên môn, tay nghề và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết;
đ) Giấy tờ khác theo yêu cầu của bên tiếp nhận lao động.
10. Quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 44Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thìngười lao động đi làm việc ở nước ngoài có các quyền sau đây:
1. Yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài cung cấp các thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông tin về chính sách, pháp luật có liên quan và phong tục, tập quán của nước tiếp nhận người lao động; quyền và nghĩa vụ của các bên khi đi làm việc ở nước ngoài;
2. Hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập khác, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác quy định trong các hợp đồng và điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 của Luật này;
3. Được doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, pháp luật và thông lệ quốc tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích trong hợp đồng lao động, hợp đồng thực tập;
4. Chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập và tài sản khác của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động;
5. Hưởng các quyền lợi từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật;
6. Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
11. Nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 45Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thìngười lao động đi làm việc ở nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây:
1. Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; tôn trọng phong tục, tập quán của nước tiếp nhận người lao động; đoàn kết với người lao động của nước tiếp nhận người lao động và người lao động của các nước khác;
2. Chủ động học nghề, học ngoại ngữ, tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan;
3. Tham gia khóa bồi dưỡng kiến thức cần thiết trước khi đi làm việc ở nước ngoài;
4. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động;
5. Làm việc đúng nơi quy định; thực hiện nội quy nơi làm việc vàvề nước sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thực tập theo quy định của nước tiếp nhận người lao động;
6. Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động;
7. Tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hình thức bảo hiểm theo quy định của nước tiếp nhận người lao động;
8. Nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận người lao động;
9. Đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật này.
12. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có quyền và nghĩa vụ gì với doanh nghiệp dịch vụ?
Trả lời:
Theo Điều 46 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì ngoài các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Luật này, đối với doanh nghiệp dịch vụ, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Ký kết Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ;
2. Được bổ túc nghề và cóngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của hợp đồng lao động;
3. Được vay vốn của tổ chức tín dụng để đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật;
4. Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp dịch vụ vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
5. Được gia hạn Hợp đồng lao động hoặc ký kết Hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động;
6. Trả tiền dịch vụ và hoàn trả tiền môi giới (nếu có) cho doanh nghiệp dịch vụ;
7. Ký quỹ hoặc giới thiệu người bảo lãnh theo thoả thuận với doanh nghiệp dịch vụ để bảo đảm thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
8. Thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
13. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có quyền và nghĩa vụ gì với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài?
Trả lời:
Theo Điều 47 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì ngoài các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Luật này thì đối với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, người lao động còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Ký kết Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp nhận thầu, trúng thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài;
2. Được bổ túc nghề và có ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
3. Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
4. Thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi lao động ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài.
14. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có các quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Theo Điều 48Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thìngoài các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Luật này, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
1. Ký kết Hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
2. Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi thực tập;
3. Thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi thực tập với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề.
15. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có quyền và nghĩa vụ gì với tổ chức sự nghiệp?
Trả lời:
Theo Điều 49 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thìngoài các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Luật này, đối với tổ chức sự nghiệp, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Ký kết Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp;
- Giới thiệu người bảo lãnh theo yêu cầu của tổ chức sự nghiệp;
- Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp tổ chức sự nghiệp vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
- Nộp khoản tiền để chi phí cho việc thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế;
- Thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp chậm nhất là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày chấm dứt Hợp đồng lao động;
- Được bổ túc nghề và cóngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của Hợp đồng lao động;
- Được vay vốn của tổ chức tín dụng để đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật;
- Được gia hạn Hợp đồng lao động hoặc ký kết Hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động.
16. Qua người thân, tôi có quen biết với một vài doanh nghiệp nước ngoài, nay tôi muốn ra nước ngoài làm việc bằng hình thức ký Hợp đồng trực tiếp giữa tôi với bên nước ngoài có được không? Nếu được thì tôi phải cần các điều kiện gì?
Trả lời:
Theo Điều 50 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì anh (chị) được đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài; có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt; đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động và không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Có hợp đồng cá nhân. Hợp đồng cá nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc. Hợp đồng cá nhân bao gồm những nội dung chính sau đây: ngành, nghề, công việc phải làm; thời hạn của Hợp đồng; địa điểm làm việc; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền công; tiền làm thêm giờ; chế độ khám bệnh, chữa bệnh; chế độ bảo hiểm xã hội; trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài; giải quyết tranh chấp.
3. Có Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động thường trú.
17. Trong trường hợp người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức Hợp đồng cá nhân thì Hợp đồng cá nhân bao gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Theo Điều 51 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì Hợp đồng cá nhân được quy định như sau:
- Hợp đồng cá nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc.
- Hợp đồng cá nhân bao gồm những nội dung chính sau đây:
+ Ngành, nghề, công việc phải làm;
+ Thời hạn của Hợp đồng.
+ Địa điểm làm việc;
+ Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
+ Tiền lương, tiền công; tiền làm thêm giờ;
+ Chế độ khám bệnh, chữa bệnh;
+ Chế độ bảo hiểm xã hội;
+ Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài;
+ Giải quyết tranh chấp.
18. Tôi đã ký Hợp đồng cá nhân để đi làm việc ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật. Xin hỏi tôi cần phải làm gì tiếp theo để hoàn thành hồ sơ, thủ tục để ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng?
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật thì sau khi ký Hợp đồng cá nhân với bên nước ngoài về việc đi lao động ở nước ngoài thì người lao độngcần làm hồ sơ đăng ký Hợp đồng cá nhân với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi thường trú.
Theo quy định tại Điều 52 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói trên, hồ sơ đăng ký bao gồm:
- Đơn đăng ký kèm theo bản sao Hợp đồng cá nhân, có bản dịch bằng tiếng Việt;
- Bản chụp Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu;
- Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người lao động thường trú hoặc của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức.
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân cho anh (chị). Nếu không được chấp thuận thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do để anh (chị) biết.
Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân phải được xuất trình khi bạn làm thủ tục xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài.
19. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân có các quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 53 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng cá nhân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
Về quyền:
- Được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật của Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
- Được cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc, pháp luật và thông lệ quốc tế trong thời gian làm việc ở nước ngoài; được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích quy định trong hợp đồng cá nhân;
- Hưởng các quyền lợi từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của pháp luật;
- Được chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập và tài sản khác của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc;
- Được gia hạn Hợp đồng hoặc ký Hợp đồng lao động mới phù hợp với quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc.
Nghĩa vụ:
- Đăng ký Hợp đồng cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này;
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan;
- Tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc;
- Thực hiện đúng Hợp đồng cá nhân và nội quy nơi làm việc;
- Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã ký theo quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc;
- Tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hình thức bảo hiểm theo quy định pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc;
- Nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc;
- Đóng góp vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định của Luật này;
- Đăng ký công dân tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam tại nước mà người lao động đến làm việc.
20. Việc bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thực hiện trong những trường hợp nào? Người bảo lãnh cần phải có các điều kiện gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 55 của Luật này, việc bảo lãnh được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
- Người lao động đi làm việc theo Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp dịch vụ không ký quỹ hoặc không đủ tiền ký quỹ;
- Người lao động đi làm việc theo Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức sự nghiệp khi tổ chức này yêu cầu thực hiện việc bảo lãnh.
Người bảo lãnh thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về trách nhiệm bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ của người lao động đối với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp.
Trường hợp người lao động vi phạm Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và gây thiệt hại cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp mà người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bù đắp thiệt hại phát sinh do người lao động gây ra cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. Sau khi bù đắp thiệt hại, nếu tài sản của người bảo lãnh còn thừa thì phải trả lại cho người bảo lãnh.
Tuy nhiên, người bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có khả năng về kinh tế đáp ứng điều kiện trong Hợp đồng bảo lãnh.
21. Việc bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có phải lập thành văn bản không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 57 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hợp đồng bảo lãnh phải được lập thành văn bản và phải có những nội dung chính sau đây:
- Phạm vi bảo lãnh;
- Quyền và nghĩa vụ các bên tham gia Hợp đồng bảo lãnh;
- Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh;
- Xử lý tài sản của người bảo lãnh.
22. Chị A bảo lãnh toàn bộ cho chị N đi lao động tại Đài Loan với thời hạn 3 năm. Sau khi sang Đài Loan làm việc được 01 năm theo hợp đồng, chị N tự ý bỏ việc về nước nên phía Đài Loan yêu cầu công ty môi giới lao động Việt Nam phải bồi thường thiệt hại. Công ty môi giới lao động đã bồi thường thiệt hại cho phía Đài Loan và yêu cầu chị A bồi thường cho Công ty. Hỏi trong trường hợp này, chị A có phải bồi thường không?
Trả lời:
Nếu trong hợp đồng bảo lãnh không có thoả thuận gì khác thì đương nhiên chị A có nghĩa vụ phải bồi thường khoản thiệt hại nói trên cho công ty môi giới lao động. Chị A là người bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ nên trong trường hợp chị này chị phải thực hiện nghĩa vụ thay chị N.
Theo quy định tại mục II khoản 3, điểm 3.2 tiết c Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BLĐTBXH-BTP ngày 11 tháng 07 năm 2007 giữa Bộ Lao động Thương binh và xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thì một trong các nghĩa vụ của người bảo lãnh là phải “thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong phạm vi đã cam kết trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng đã ký với bên nhận bảo lãnh”.
23. Bên nhận bảo lãnh cho người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BLĐTBXH-BTP ngày 11 tháng 07 năm 2007 giữa Bộ Lao động Thương binh và xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, bên nhận bảo lãnh có các quyền và nghĩa vụ sau:
Về quyền :
- Yêu cầu bên bảo lãnh chuyển giao giấy tờ, tài liệu chứng minh khả năng tài chính, năng lực, uy tín của mình và các loại giấy tờ cần thiết khác;
- Yêu cầu bên bảo lãnh có các biện pháp vận động, giáo dục bên được bảo lãnh thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh;
- Yêu cầu bên bảo lãnh đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để xử lý trong trường hợp hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh.
Về nghĩa vụ:
- Thực hiện đúng các cam kết với bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh;
- Thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời cho bên bảo lãnh các quyền và nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh;
- Thông báo về nơi làm việc, tình hình việc làm, thu nhập, sức khoẻ, điều kiện làm việc, điều kiện sinh hoạt của bên được bảo lãnh theo yêu cầu của bên bảo lãnh;
- Giữ gìn, bảo quản, không làm hư hỏng, mất giấy tờ, tài liệu chứng minh khả năng tài chính, năng lực, uy tín của bên bảo lãnh, nếu các bên có thỏa thuận về việc bên nhận bảo lãnh giữ giấy tờ, tài liệu này. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh làm hư hỏng hoặc mất giấy tờ, tài liệu của bên bảo lãnh thì phải bồi thường thiệt hại;
- Thông báo cho bên bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi phát sinh căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định tại Điều 41 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; nếu bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó thì bên nhận bảo lãnh phải nêu rõ lý do trong thông báo về việc bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn;
- Cung cấp cho bên bảo lãnh giấy tờ, tài liệu chứng minh về thiệt hại do bên được bảo lãnh gây ra;
- Hoàn trả giấy tờ, tài liệu chứng minh khả năng tài chính, năng lực, uy tín của bên bảo lãnh (nếu có) khi Hợp đồng bảo lãnh chấm dứt.
24. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 56 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thìthời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do người bảo lãnh và doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp thoả thuận. Thoả thuận này phải được thể hiện trong Hợp đồng bảo lãnh. Nếu không thỏa thuận được thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong một thời hạn hợp lý do doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp ấn định tính từ thời điểm người bảo lãnh nhận được thông báo của doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động.
25. Khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thì phải xử lý thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BLĐTBXH-BTP ngày 11 tháng 07 năm 2007 giữa Bộ Lao động Thương binh và xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong trường hợp hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh và không đưa tài sản để xử lý theo thỏa thuận thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xử lý tài sản của bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
Nếu việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản hoặc ký quỹ theo quy định tại Điều 58 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bên nhận bảo lãnh có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng cầm cố, thế chấp, ký quỹ mà các bên đã ký kết để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.
Sau khi đã trừ các chi phí cần thiết cho việc xử lý tài sản, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh được dùng để thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh. Trong trường hợp ngoài nghĩa vụ bảo lãnh còn có nghĩa vụ khác được bảo đảm bằng tài sản bị xử lý thì việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Sau khi đã thanh toán xong nghĩa vụ được bảo lãnh mà tiền bán tài sản vẫn còn thì bên bảo lãnh được nhận số tiền bán tài sản còn lại đó. Trong trường hợp số tiền bán tài sản không đủ để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải bổ sung tài sản để xử lý, thanh toán phần còn thiếu đó.
Người bảo lãnh thỏa thuận với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp về trách nhiệm bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ của người lao động đối với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp.
Trường hợp người lao động vi phạm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và gây thiệt hại cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp mà người lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bù đắp thiệt hại phát sinh do người lao động gây ra cho doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp. Sau khi bù đắp thiệt hại, nếu tài sản của người bảo lãnh còn thừa thì phải trả lại cho người bảo lãnh.
26. Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BLĐTBXH-BTP ngày 11 tháng 07 năm 2007 giữa Bộ Lao động Thương binh và xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hợp đồng bảo lãnh chấm dứt trong các trường hợp: Nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh chấm dứt; bên bảo lãnh đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh; việc bảo lãnh được huỷ bỏ; theo thỏa thuận của các bên; các trường hợp khác do pháp luật quy định.
27. Xin cho biết Nhà nước ta có chính sách gì đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sau khi về nước?
Trả lời:
Chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người lao động sau khi về nước được quy định tại Mục 4 (Điều 59 và Điều 60) Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo đó người lao động sau khi về nước được hỗ trợ việc làm và khuyến khích tạo việc làm, cụ thể như sau:
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo cho biết nhu cầu tuyển dụng lao động ở trong nước; hướng dẫn, giới thiệu người lao động đăng ký tìm việc làm phù hợp.
- Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiếp nhận và tuyển dụng vào làm việc hoặc đưa đi làm việc ở nước ngoài.
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động về nước đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho mình và cho người khác.
- Người lao động gặp khó khăn thì được vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật để tạo việc làm
III. CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1. Tôi và ông K mỗi người đều đang sử dụng một mảnh đất trồng rau màu, diện tích tương đương nhau. Chúng tôi muốn chuyển đổi cho nhau để tiện việc đi lại trong quá trình canh tác nhưng nghe nói phải làm Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất. Xin hỏi Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Theo quy định tại các Điều 693, 694 Bộ luật dân sự năm 2005, Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên chuyển giao đất và chuyển quyền sử dụng đất cho nhau. Việc chuyển đổi này phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai
Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất gồm những nội dung sau : Tên, địa chỉ của các bên; quyền, nghĩa vụ của các bên; loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất; thời điểm chuyển giao đất; thời hạn sử dụng đất của bên chuyển đổi; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên được chuyển đổi; chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất, nếu có; quyền của người thứ ba đối với đất chuyển đổi; trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
2. Khi chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau thì các bên có quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 695 Bộ luật dân sự năm 2005 các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:
- Chuyển giao đất cho nhau đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thỏa thuận;
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn;
- Chịu lệ phí về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà mình được chuyển đổi và thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai;
- Thanh toán tiền chênh lệch, nếu giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi của một bên cao hơn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo quy định tại Điều 696 Bộ luật dân sự năm 2005 các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất có các quyền sau đây:
- Yêu cầu bên kia giao đất đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thỏa thuận;
- Yêu cầu bên kia giao cho mình toàn bộ giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất;
- Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đã chuyển đổi;
- Được sử dụng đất theo mục đích, đúng thời hạn.
3. Theo quy định của pháp luật thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm những nội dung nào?
Trả lời:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bênchuyển nhượng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và pháp luật về đất đai.
Theo quy định tại Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung sau đây:
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
- Thời hạn sử dụng đất của bên chuyển nhượng; thời hạn sử dụng đất còn lại của bên nhận chuyển nhượng;
- Giá chuyển nhượng;
- Phương thức, thời hạn thanh toán;
- Quyền của người thứ ba đối với đất chuyển nhượng;
- Các thông tin khác liên quan đến quyền sử dụng đất;
- Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
4. Anh G chuyển nhượng cho anh S 200 m2 đất thổ cư (có sổ đỏ) để làm nhà ở, anh S đã trả cho anh G đầy đủ số tiền như thỏa thuận. Trong thời gian chờ bàn giao đất, anh G đã cho đào, xúc khá nhiều đất để lấp ao. Khi đến nhận đất, anh S không đồng ý và yêu cầu anh G phải san lấp lại như c mới nhận. Xin hỏi anh S có quyền yêu cầu như vậy không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 699 Bộ luật dân sự năm 2005 thì nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất là chuyển giao đất cho bên nhận chuyển nhượng đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận.
Theo quy định tại Điều 702 Bộ luật dân sự năm 2005 thì bên nhận chuyển nhượng có quyền yêu cầu bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao đất đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thỏa thuận.
Như vậy, đối chiếu với các quy định của pháp luật thì anh G đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất (cụ thể là giao đất không đúng tình trạng đất như đã thỏa thuận); yêu cầu của anh S là hoàn toàn chính đáng và đúng pháp luật.
5. Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bao gồm những nội dung gì ?
Trả lời:
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê chuyển giao đất cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê theo quy định của Bộ luật này và tư vấn pháp luật về đất đai ( Điều 703).
Theo quy định tại Điều 704 Bộ luật dân sự năm 2005 thì Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung sau:
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
- Thời hạn thuê;
- Giá thuê;
- Phương thức, thời hạn thanh toán;
- Quyền của người thứ ba đối với đất thuê;
- Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng;
- Giải quyết hậu quả khi hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hết hạn.
6. Xin cho biết bên cho thuê quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ và quyền gì ?
Trả lời:
Nghĩa vụ và quyền của bên cho thuê quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 705 và Điều 706 Bộ luật dân sự năm 2005, như sau :
- Bên cho thuê quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ : Đăng ký việc cho thuê quyền sử dụng đất; chuyển giao đất cho bên thuê đủ diện tích, đúng vị trí, số hiệu, hạng đất, loại đất và tình trạng đất như đã thoả thuận; cho thuê quyền sử dụng đất trong thời hạn được giao, được thuê; kiểm tra, nhắc nhở bên thuê bảo vệ, giữ gìn đất và sử dụng đất đúng mục đích; nộp thuế sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; báo cho bên thuê về quyền của người thứ ba đối với đất thuê.
- Bên cho thuê quyền sử dụng đất có các quyền: Yêu cầu bên thuê quyền sử dụng đất trả đủ tiền thuê; yêu cầu bên thuê quyền sử dụng đất chấm dứt ngay việc sử dụng đất không đúng mục đích, huỷ hoại đất hoặc làm giảm sút giá trị sử dụng của đất; nếu bên thuê không chấm dứt ngay hành vi vi phạm thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, yêu cầu bên thuê trả lại đất đang thuê và bồi thường thiệt hại; yêu cầu bên thuê trả lại đất khi thời hạn cho thuê đã hết.
7. Ông N thuê 500m2 ao của bà D để nuôi cá, thời hạn thuê là 05 năm. Sau hai năm không có lãi, ông không nuôi cá nữa mà xoay sang tát ao, đào đất làm gạch. Việc làm của ông N có đúng không?
Trả lời:
Ông N thuê ao để nuôi cá chứ không phải để lấy đất làm gạch là sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 707 Bộ luật dân sự năm 2005. Sử dụng đất thuê đúng thời hạn, đúng mục đích và đúng thỏa thuận vừa là quyền đồng thời là nghĩa vụ của bên thuê đất. Theo Điềuluật này,bên thuê quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ:
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng thời hạn cho thuê;
- Không được huỷ hoại, làm giảm sút giá trị sử dụng của đất và phải thực hiện các yêu cầu khác như đã thoả thuận trong hợp đồng thuê quyền sử dụng đất;
- Trả đủ tiền thuê quyền sử dụng đất đúng thời hạn, đúng địa điểm và theo phương thức đã thoả thuận; nếu việc sử dụng đất không sinh lợi thì bên thuê vẫn phải trả đủ tiền thuê, trừ trường hợp có thoả thuận khác;
- Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường; không được làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất xung quanh;
- Trả lại đất đúng tình trạng như khi nhận sau khi hết thời hạn thuê, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Bên cạnh các nghĩa vụ trên, theo quy định tại Điều 708 Bộ luật dân sự năm 2005, bên thuê quyền sử dụng đất có quyền :
- Yêu cầu bên cho thuê chuyển giao đất đủ diện tích, đúng vị trí, số hiệu, hạng đất, loại đất và tình trạng đất như đã thoả thuận;
- Được sử dụng đất thuê ổn định theo thời hạn như đã thoả thuận;
- Được hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất;
- Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 426 của Bộ luật này;
- Yêu cầu bên cho thuê giảm, miễn tiền thuê trong trường hợp do bất khả kháng mà hoa lợi, lợi tức bị mất hoặc bị giảm sút.
8. Do vợ bị ốm, nhà neo người nên ông Đ cho bà V thuê 2,5 ha đất chuyên trồng lúa nước với thời hạn ba năm. Bà V không trồng lúa trên diện tích này như thoả thuận mà chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, bị cơ quan nhà nước ra quyết định thu hồi diện tích đất nói trên. Lấy lý do đất đã bị thu hồi nên bà V không trả tiền thuê cho ông Đ. Ông Đ cũng không có đất để tiếp tục canh tác khi vợ khỏi bệnh, phải chịu nhiều thiệt hại. Ông Đ có quyền yêu cầu bà V bồi thường thiệt hại không ?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 710 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Khi bên cho thuê hoặc bên thuê cố ý vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất dẫn đến việc Nhà nước thu hồi đất thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Bà V cố ý vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất dẫn đến việc Nhà nước thu hồi, gây thiệt hại cho ông Đ. Thiệt hại này hoàn toàn do lỗi của bà V. Theo quy định tại khoản 1 điều nói trên, ông Đ có quyền yêu cầu bà V bồi thường thiệt hại.
9. Chị A thuê 2 ha ao của ông M để nuôi cá, thời hạn 6 năm, đã trả trước toàn bộ giá trị tiền thuê. Khoản tiền chênh lệch do thời giá thay đổi sẽ được điều chỉnh mỗi năm một lần. Được hai năm sau thì ông M chết. Anh N - con trai ông M đòi lấy lại diện tích ao nói trên. Hỏi anh N có được làm như vậy không ?
Trả lời:
Nếu trong hợp đồng thuê quyền sử dụng ao nói trên không quy định việc trả lại ao sau khi ông M chết thì anh N không có quyền lấy lại ao khi thời hạn thuê theo hợp đồng chưa hết. Chị A có quyền tiếp tục được thuê quyền sử dụng diện tích ao này cho đến khi hết thời hạn thoả thuận trong hợp đồng.
Quyền tiếp tục thuê quyền sử dụng đất khi một bên chết được quy định tại Điều 711 Bộ luật dân sự năm 2005. Theo đó, trong trường hợp bên cho thuê quyền sử dụng đất là cá nhân chết thì bên thuê vẫn được tiếp tục thuê quyền sử dụng đất cho đến hết thời hạn thuê. Trong trường hợp bên thuê quyền sử dụng đất là cá nhân chết thì thành viên trong hộ gia đình của người đó được tiếp tục thuê quyền sử dụng đất cho đến hết thời hạn thuê nhưng phải báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
10. Đất đang cho người khác thuê thì có được chuyển nhượng cho người thứ ba không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 712 Bộ luật dân sự 2005 thì khi thời hạn cho thuê quyền sử dụng đất vẫn còn bên cho thuê vẫn có thể được chuyển nhượng cho người thứ ba nếu việc chuyển nhượng này là phù hợp, đúng pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Tuy nhiên, bên cho thuê phải báo cho bên thuê biếtđể bên thuê thực hiện nghĩa vụ với bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Bên thuê vẫn được tiếp tục thuê cho đến hết thời hạn thuê quyền sử dụng đất theo hợp đồng. Quyền này cần phải được thể hiện rõ trong hợp đồng chuyển nhượng giữa bên cho thuê và bên nhận chuyển nhượng và phải được các bên triệt để thực hiện nếu bên nhận chuyển nhượng và bên thuê không có thoả thuận khác.
11. Xin cho biết các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 713 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng thuê quyền sử dụng đất chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn thuê và không được gia hạn thuê;
- Theo thoả thuận của các bên;
- Nhà nước thu hồi đất;
- Một trong các bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;
- Bên thuê quyền sử dụng đất là cá nhân chết mà trong hộ gia đình của người đó không còn thành viên nào khác hoặc có nhưng không có nhu cầu tiếp tục thuê;
- Diện tích đất thuê không còn do thiên tai;
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Khi hợp đồng thuê quyền sử dụng đất chấm dứt, người thuê quyền sử dụng đất phải khôi phục tình trạng đất như khi nhận đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Tài sản gắn liền với đất được giải quyết theo thoả thuận của các bên.
12. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đấtlà gì ? Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất có thuộc tài sản thế chấp không ?
Trả lời:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và phạm vi thế chấp quyền sử dụng đất được quy định tại các Điều 715, 716 Bộ luật dân sự năm 2005. Theo đó, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên sử dụng đất (gọi là bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận thế chấp. Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp.
Ví dụ, để vay tiền ngân hàng đầu tư vào một công việc nào đó thì người đi vay cần thế chấp quyền sử dụng một diện tích đất vườn nhất định mà mình có quyền sử dụng. Trong thời hạn thế chấp, người đó vẫn được sử dụng đất vườn đã thế chấp để canh tác nhưng không được tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn đó nếu không được ngân hành đồng ý.
Quyền sử dụng đất có thể được thế chấp một phần hoặc toàn bộ. Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thoả thuận.
13. Bà H thế chấp quyền sử dụng 500 m2 đất thổ cư vay tiền ngân hàng thời hạn 02 năm. Nay bà muốn chuyển nhượng 200m2 đất trong diện tích đất thế chấp đó để lấy tiền xây nhà có được không ?
Trả lời:
Khoản 4 Điều 718 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định bên thế chấp quyền sử dụng đất có các quyền “được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất đã thế chấp nếu được bên nhận thế chấp đồng ý”.
Theo quy định này thì muốn chuyển nhượng 200m2 đất nói trên, bà Hạnh cần báo cho bên Ngân hàng nhận thế chấp biết để ngân hàng xem xét, tính toán khả năng thanh toán nợ của bà để quyết định cho bà chuyển nhượng hay không. Ngân hàng đồng ý thì bà mới được chuyển nhượng.
14. Xin cho biết bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất có những quyền và nghĩa vụ nào ?
Trả lời:
Nghĩa vụ và quyền của bên nhận thế chấp quyền sử dụng đất được quy địnhtại các Điều 719, 720 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
Về nghĩa vụ:
- Cùng với bên thế chấp đăng ký việc thế chấp;
- Trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bên thế chấp đã thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp.
Về quyền:
- Kiểm tra, nhắc nhở bên thế chấp quyền sử dụng đất bảo vệ, giữ gìn đất và sử dụng đất đúng mục đích;
- Được ưu tiên thanh toán nợ trong trường hợp xử lý quyền sử dụng đất đã thế chấp.
15. Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng tặng cho đất gồm những nội dung nào?
Trả lời:
Đây không phải là tặng cho đất mà là tặng cho quyền sử dụng đất. Theo quyđịnhtạiĐiều 722 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
Nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, theo quy định tại Điều 723 Bộ luật dân sự năm 2005 bao gồm:
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Lý do tặng cho quyền sử dụng đất;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
- Thời hạn sử dụng đất còn lại của bên tặng cho;
- Quyền của người thứ ba đối với đất được tặng cho;
- Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
16. Đề nghị cho biết, bên được tặng cho quyền sử dụng đất có các quyền, nghĩa vụ gì ?
Trả lời:
Điều 725 và Điều 726 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các quyền và nghĩa vụ bên được tặng cho quyền sử dụng đất như sau :
Về quyền (Điều 726):
- Yêu cầu bên tặng cho giao đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận;
- Được sử dụng đất theo đúng mục đích, đúng thời hạn;
- Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nghĩa vụ ( Điều 725):
- Đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Bảo đảm quyền của người thứ ba đối với đất được tặng cho;
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về đất đai.
17. Tôi định tặng cho em trai của tôi quyền sử dụng 45m2 đất thổ cư để làm nhà ở. Xin hỏi ngoài việc giao cho em trai tôi diện tích đất nêu trên, tôi còn phải có nghĩa vụ gì ?
Trả lời:
Điều 724 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định bên tặng cho quyền sử dụng đấtcó nghĩa vụ phải giao đất đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận. Ngoài ra, còn phải giao giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất.
18. Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là gì và gồm những nội dung nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 727 và Điều 728 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất (gọi là bên góp vốn) góp phần vốn của mình bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất bao gồm các nội dung sau đây:
- Tên, địa chỉ của các bên;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
- Thời hạn sử dụng đất còn lại của bên góp vốn;
- Thời hạn góp vốn;
- Giá trị quyền sử dụng đất góp vốn;
- Quyền của người thứ ba đối với đất được góp vốn;
- Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
19. Bên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời:
Quyền và nghĩa vụ củabên góp vốn bằng giá trị quyền sử d��ng được quy định tại các Điều 729 và Điều 730 Bộ luật dân sự năm 2005, như sau :
Về quyền: Được hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; được chuyển nhượng, để thừa kế phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; được nhận lại quyền sử dụng đất đã góp vốn theo thỏa thuận hoặc khi thời hạn góp vốn đã hết; huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên nhận góp vốn không thực hiện việc thanh toán phần lợi nhuận đúng thời hạn hoặc thanh toán không đầy đủ.
Về nghĩa vụ : Giao đất đúng thời hạn, đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận trong hợp đồng; đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.
20. Ông C góp vốn bằng quyền sử dụng 2 ha ao hồ để hợp tác xã K nuôi cá thời hạn 03 năm. Nhưng sau một năm, do làm ăn không có lãi nên hợp tác xã K đã không chia cho ông đồng nào. Vì vậy, ông đòi hợp tác xã K trả lại ao hồ và bồi thường thiệt hại cho ông. Như vậy có đúng không ?
Trả lời:
Nếu trong hợp đồng góp vốn giữa ông C và hợp tác xã K không quy định việc trả lại diện tích ao hồ trước thời hạn trong trường hợp sản xuất kinh doanh không có lãi thì ông Cần không được đòi lại.
Khoản 1 Điều 731 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: bên nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất có nghĩa vụ thanh toán phần lợi nhuận cho bên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đúng thời hạn, đúng phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng.
Đây là việc góp vốn sản xuất kinh doanh bằng quyền sử dụng ao hồ chứ không phải cho thuê quyền sử dụng diện tích ao hồ. Khi sản xuất kinh doanh (ở đây là nuôi cá) không có lãi thì đương nhiên hợp tác xã K không thể có lãi để thanh toán cho bên góp vốn được. Nếu hợp đồng không có quy định khác thì mọi rủi ro, thiệt hại các bên (cả bên góp vốn và bên nhận góp vốn) cùng phải gánh chịu.
Khoản 2 Điều 732 Bộ luật nàyquy định người nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất có quyền được sử dụng đất theo đúng mục đích, đúng thời hạn.
Như vậy, trong trường hợp này, hợp tác xã K không có nghĩa vụ trả lại diện tích ao hồ nói trên vì thời hạn góp vốn vẫn còn (hai năm).
Tuy nhiên, nếu việc sản xuất của hợp tác xã K quả thực khó khăn, không có khả năng đem lại lợi nhuận thì hai bên có thể (chứ không phải bắt buộc) bàn bạc xem xét, thoả thuận lại.
21. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp cần những điều kiện nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 100 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai (dưới đây gọi tắt là Nghị định 181), tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp khi có các điều kiện sau:
- Mục đích sử dụng diện tích đất nhận chuyển nhượng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
- Được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, xác định thời hạn sử dụng đất đồng thời với việc xét duyệt nhu cầu sử dụng đất theo những căn cứ quy định tại Điều 30 của Nghị định này (phải có đầy đủ hồ sơ, thủ tục chứng minh về nhu cầu sử dụng đất được xét duyệt; về chấp hành tốt pháp luật về đất và Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
- Phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Điều 36 của Luật đất đai và quy định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
Đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà người sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng trong quyết định xét duyệt dự án hoặc trong quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất chưa xác định thời hạn sử dụng đất thì thời hạn sử dụng đất là 50 năm kể từ ngày quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất có hiệu lực thi hành.
22. Đề nghị cho biết điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê ?
Trả lời:
Điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê được quy định tại Điều 100 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. Theo đó, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê chỉ được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án được xét duyệt; trường hợp dự án đầu tư xây dựng nhà ở có dự án thành phần thì được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi đã hoàn thành việc đầu tư theo dự án thành phần của dự án đầu tư được xét duyệt; không cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức bán nền mà chưa xây dựng nhà ở.
23. Hai hộ nông dân ở hai xã khác nhau có thể chuyển đổi đất trồng lúa cho nhau được không?
Trả lời
Theo quy định của pháp luật thì không chuyển đổi được, vì Điều 102 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định: hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất hoặc do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Cũng theo quy định tại Điều 102 thì khi chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp theo chủ trương chung về ''dồn điền đổi thửa'' cá nhân, hộ gia đình không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính.
24. Gia đình tôi được giao 1 ha ruộng chuyên trồng lúa nước. Nay do sức yếu, các con tôi đều đi làm ăn xa, gia đình không đủ người làm, nên tôi muốn nhượng cho người cháu họ (là giáo viên) 0,2 ha trong diện tích ruộng này để trồng rau màu nhưng không biết có được không?
Trả lời:
Việc chuyển nhượng, tặng cho đất chuyên trồng lúa nước được thực hiện theo quy định tại Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.
Khoản 3 Điều 103 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước”.
Theo quy định này thì người cháu mà bà muốn chuyển nhượng quyền sử dụng 0,2 ha ruộng nói trên là giáo viên, không phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 0,2 ha ruộng chuyên trồng lúa nước nói trên.
25. Gia đình tôi được Nhà nước giao đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ. Hiện nay gia đình tôi muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đó cho người khác có được không?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 104 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về việc hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện thì gia đình anh/chị chỉđược chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó.
26. Tôi được Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thông báo về việc diện tích đất nông nghiệp phải chuyển sang thuê do tôi đã nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức. Xin hỏi trong trường hợp này, tôi có được quyền lựa chọn thửa đất chuyển sang thuê không?
Trả lời:
Trong trường hợp này, ông (bà) được quyền lựa chọn thửa đất chuyển sang thuê. Khoản 5 Điều 105 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định: Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức có trách nhiệm thông báo cho người đó biết diện tích đất nông nghiệp phải chuyển sang thuê; người nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất được quyền lựa chọn thửa đất chuyển sang thuê.
27. Năm 2004, Công ty M được Nhà nước giao đất làm nhà xưởng sản xuất có thu tiền sử dụng đất. Cuối năm 2007, Công ty M chuyển nhượng 500 m2 quyền sử dụng đất đó Công ty TNHH A. Xin hỏi các quyền và nghĩa vụ của Công ty A khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này?
Trả lời:
Theo Điều 106 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Công ty Anhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phi nông nghiệp hợp pháp từ tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thì:
- Nếu quyền sử dụng đất đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì công ty TNHH A không phải nộp tiền sử dụng đất, không phải chuyển sang thuê đất và có các quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật Đất đai;
- Nếu quyền sử dụng đất đó có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng phải chuyển sang thuê đất và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Đất đai; nếu tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật Đất đai;
Thời hạn sử dụng đất là thời hạn còn lại của thời hạn sử dụng đất trước khi nhận chuyển nhượng đối với trường hợp đất trước khi nhận chuyển nhượng được sử dụng có thời hạn; thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài đối với trường hợp đất trước khi nhận chuyển nhượng được sử dụng ổn định lâu dài.
IV. BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1. Xin cho biết nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất?
Trả lời:
Theo Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và mục 1 phần II Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 17/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nguyên tắc bồi thường như sau:
Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định trên thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ.
Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chệnh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
Cần lưu ý, người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp; người được sử dụng đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường theo đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở).
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.
Nghĩa vụ tài chính bao gồm: tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu hồi (nếu có), tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. Trường hợp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn hoặc bằng tiền bồi thường đất thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bồi thường đất.
Diện tích đất được bồi thường là diện tích được xác định trên thực địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất.
2. Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp nào thu hồi đất mà không được bồi thường về đất?
Trả lời:
Điều 7 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường về đất gồm:
- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
- Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép;
- Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;
- Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng;
- Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
- Đất thuê của Nhà nước;
- Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;
- Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 50 của Luật đất đai.
Những người bị thu hồi đất nêu trên được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi trừ những trường hợp thu hồi đất không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất.
3. Gia đình tôi sử dụng đất theo quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án. Sắp tới Nhà nước sẽ thu hồi đất này để làm khu vui chơi, giải trí. Vậy gia đình tôi có được bồi thường hay không?
Trả lời:
Theo khoản 7 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, việc sử dụng đất theo quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án là đủ điều kiện được bồi thường đất khi bị thu hồi. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất đó của ông/bà để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế… thì ông/bà sẽ được bồi thường theo quy định của pháp luật.
4. Xin hỏi khi Nhà nước thu hồi đất thì giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 9 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định và công bố, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp.
Trường hợp thực hiện bồi thường chậm, giá đất để tính bồi thường được quy định như sau:
- Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
- Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng bao gồm: tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ, thực tế chứng minh. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý tính thành tiền đầu tư vào đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã sử dụng đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:
- Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền);
- Các khoản chí phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp hoặc đất ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất;
- Các khoản chi phí khác có liên quan.
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định việc xác định khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại theo đề nghị của Sở Tài chính cho phù hợp với thực tế tại địa phương. Những chi phí không đủ hồ sơ, chứng từ, thực tế chứng minh thì không được bồi thường.
5. Gia đình tôi nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp của nông trường quốc doanh. Khi Nhà nước thu hồi đất thì gia đình tôi sẽ được bồi thường như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về việc bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân: hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định như sau:
- Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ bằng tiền cao nhất bằng giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng trên chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
- Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
6. Nhà nước thu hồi 500m2 đất nhà xưởng sản xuất đồ gỗ của gia đình tôi để mở rộng đường. Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì gia đình tôi sẽ được bồi thường như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 11 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường đối với đất phi nông nghiệp (trừ đất ở) của hộ gia đình, cá nhân thì nếu đất của gia đình ông (bà) có nguồn gốc là đất ở đã được giao sử dụng ổn định lâu dài hoặc có đủ điều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá đất ở. Nếu gia đình ông (bà) sử dụng diện tích đất trên có thời hạn do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho hoặc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp; trường hợp sử dụng đất do Nhà nước hoặc do Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê theo thẩm quyền thì khi Nhà nước thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
7. Pháp luật quy định như thế nào trong trường hợp bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở?
Trả lời:
Điều 13 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở quy định:
Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền (theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi) theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế ở địa phương.
Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi.
Trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định của địa phương, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn; nếu người bị thu hồi đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất còn lại thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất để sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn.
Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết cho mua, thuê nhà ở hoặc giao đất ở mới; người được thuê nhà hoặc mua nhà phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
8. Nguyên tắc bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 18 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về nguyên tắc bồi thường tài sản như sau:
Tài sản gắn liền với đất bao gồm: nhà, công trình xây dựng đơn chiếc; nhà, công trình xây dựng theo hệ thống trong một khuôn viên đất; cây trồng trên đất.
Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại, thì được bồi thường; nếu đất đó thuộc đối tượng không được bồi thường thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản.
Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 01/7/2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì không được bồi thường.
Tài sản gắn liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không được bồi thường.
Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được, thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt; mức bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với pháp luật hiện hành và thực tế ở địa phương.
9. Việc bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất được pháp luật hiện hành quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 19 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định: Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành. Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình do ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Đối với nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường theo mức sau:
Mức bồi Giá trị hiện có Một khoản tiền tính bằng tỷ
thường nhà, = của nhà, công trình + lệ phần trăm theo giá trị
công trình bị thiệt hại hiện có của nhà, công trình
Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành.
Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.
Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
Việc phá dỡ nhà, công trình xây dựng làm ảnh hưởng đến công trình khác mà những công trình này không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu hoặc phải phá dỡ thì được bồi thường. Việc xác định tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của nhà, công trình bị thiệt hại do cơ quan được giao thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện với sự tham gia của các cơ quan chuyên ngành. Tỷ lệ % chất lượng còn lại của nhà, công trình được xác định theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành có liên quan. Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật mà không còn sử dụng được hoặc thực tế không sử dụng, thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường.
Đối với nhà, công trình xây dựng bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được; hoặc nhà, công trình xây dựng bị phá dỡ làm ảnh hưởng đến các công trình khác trong cùng một khuôn viên đất nhưng vẫn tồn tại song không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu thì được bồi thường cho toàn bộ công trình. Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được bồi thường:
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:
+ Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
+ Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn.
Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 Luật đất đai thì việc xử lý tài sản theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
10. Anh A xây nhà không có giấy phép xây dựng, vậy khi Nhà nước thu hồi có được bồi thường không?
Trả lời:
Theo Điều 20 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP: nhà, công trình khác không được phép xây dựng thì tùy theo mức độ, tính chất hợp pháp của đất, nhà và công trình được bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định sau:
- Nhà, công trình khác xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này.
- Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này, nhưng tại thời điểm xây dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường quy định tại Điều 19 của Nghị định này.
- Nhà, công trình khác được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này, mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường; trường hợp đặc biệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể.
Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này, mà khi xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo không được phép xây dựng thì không được bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái phép đó buộc phải tự phá dỡ và tự chịu chi phí phá dỡ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền thực hiện phá dỡ.
11. Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền bồi thường được tính như thế nào?
Trả lời:
Đối với việc di chuyển mồ mả, mức tiền bồi thường được tính cho chi phí về đất đai, đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể về mồ mả cho phù hợp với tập quán và thực tế tại địa phương (Điều 22 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP).
12. Tôi có một khu vườn đang trồng các loại cây ăn quả, nay Nhà nước thu hồi để mở rộng đường. Vậy mức bồi thường đối với cây trồng trong vườn của tôi được xác định như thế nào?
Trả lời:
Điều 24 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và mục 5 phần III của Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 17/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định:
- Mức bồi thường đối với cây trồng hàng năm bằng giá trị sản lượng thu hoạch của một vụ thu hoạch, giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính cho năng suất cao nhất trong ba năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương theo thời giá trung bình của nông sản cùng loại ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất.
- Mức bồi thường đối với cây lâu năm (bao gồm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, lấy lá, cây rừng), khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá trị hiện có của vườn cây, giá trị này không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất. Giá trị hiện có của vườn cây lâu năm để tính bồi thường được xác định như sau:
+ Cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản, thì giá trị hiện có của vườn cây là toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất tính thành tiền theo thời giá tại thị trường địa phương;
+ Cây lâu năm là loại thu hoạch một lần (cây lấy gỗ) đang ở trong thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường bằng (=) số lượng từng loại cây trồng nhân với (x) giá bán 1 cây tương ứng cùng loại, cùng độ tuổi, cùng kích thước hoặc có cùng khả năng cho sản phẩm ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường trừ đi (-) giá trị thu hồi (nếu có);
+ Cây lâu năm là loại thu hoạch nhiều lần (cây ăn quả, cây lấy dầu, nhựa...) đang ở trong thời kỳ thu hoạch, thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường là giá bán vườn cây ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường trừ đi (-) giá trị thu hồi (nếu có);
+ Cây lâu năm đã đến thời hạn thanh lý, thì chỉ bồi thường chi phí chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây.
Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc, chi phí chặt hạ được tính thành tiền theo mức chi phí trung bình tại địa phương do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể đối với từng loại cây.
Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại.
Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
13. Do Nhà nước thu hồi đất để làm bệnh viện nên gia đình tôi phải chuyển đến nơi ở mới. Xin hỏi ngoài số tiền được bồi thường về đất thì gia đình tôi có được hỗ trợ chi phí cho việc di chuyển đến nơi ở mới không?
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật thì hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ di chuyển. Hỗ trợ di chuyển là việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho người bị thu hồi đất để di dời đến địa điểm mới.
Điều 27 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về vấn đề này như sau:
Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong phạm vi tỉnh, thành phố được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 3.000.000 đồng; di chuyển sang tỉnh khác được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 5.000.000 đồng; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại đất và tài sản khi bị thu hồi mà phải di chuyển cơ sở, được hỗ trợ chi phí thực tế về di chuyển, tháo dỡ và lắp đặt.
Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác; trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư), được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở; thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương.
14. Trước đây, gia đình tôi có cửa hàng ăn uống. Khi Nhà nước thu hồi đất để mở đường, gia đình tôi đã được bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do không còn mặt bằng thuận lợi nên chúng tôi không thể tiếp tục kinh doanh như trước được nữa. Vậy gia đình tôi có được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống và ổn định sản xuất ?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 28 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, khi Nhà nước thu hồi đất của các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất kinh doanh, thì được hỗ trợ tối đa bằng 30% 01 năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm trước đó. Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế. Mức hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế ở địa phương.
15. Tôi là người dân có đất bị thu hồi phải di chuyển chỗ ở. Xin hỏi quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở như thế nào?
Trả lời:
Quyền của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở:
- Đăng ký đến ở nơi tái định cư bằng văn bản;
- Được ưu tiên đăng ký hộ khẩu cho bản thân, các thành viên khác trong gia đình về nơi ở mới và được ưu tiên chuyển trường cho các thành viên trong gia đình trong độ tuổi đi học;
- Được từ chối vào khu tái định cư nếu khu tái định cư không đảm bảo các điều kiện như đã thông báo và niêm yết công khai;
- Được cung cấp mẫu thiết kế nhà miễn phí.
Nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở:
- Thực hiện di chuyển vào khu tái định cư theo đúng thời gian theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Xây dựng nhà, công trình theo đúng quy hoạch và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy ��ịnh của pháp luật;
- Nộp tiền mua nhà ở hoặc tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
V. CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP CÁC ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI
1. Xin hỏi những ai được bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý?
Trả lời:
Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy địnhđối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý gồm:
-Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo.
Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.
- Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ).
- Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.
- Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo.
- Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo.
- Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo.
- Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
- Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ.
- Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi.
2. Đối tượng nào thuộc diện bảo trợ xã hội được trợ giúp đột xuất (một lần)?
Trả lời:
Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra (Điều 6 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP), bao gồm:
- Hộ gia đình có người chết, mất tích;
- Hộ gia đình có người bị thương nặng;
- Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
- Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;
- Người bị đói do thiếu lương thực;
- Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;
- Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.
Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.
3. Xin hỏi trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên mồ côi cả cha và mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng, sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý có được trợ cấp hàng tháng không? Mức trợ cấp là bao nhiêu?
Trả lời:
Theo Điều 7 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên mồ côi cả cha và mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng, sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý thì được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng với mức là 120.000 đồng (hệ số 1). Khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi thì mức chuẩn trợ cấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp.
Tại Điều 7 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các mức trợ cấp xã hội hàng tháng thấp nhất đối với từng nhóm đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý, trong đó mức thấp nhất là 120.000đ; mức cao nhất là 480.000đ (hệ số 4).
4. Xin cho biết mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội?
Trả lời:
Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội được xác định theo bảng sau (Điều 7 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP):
Đơn vị tính: nghìn đồng
| TT | ĐỐI TƯỢNG | HỆ SỐ | TRỢ CẤP |
| 1 | - Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 4, gồm: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo từ 18 tháng tuổi trở lên; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên. - Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ). - Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo. | 2,0 | 240 |
| 2 | - Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 4 dưới 18 tháng tuổi. - Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 4 từ 18 tháng tuổi trở lên tàn tật; bị nhiễm HIV/AIDS. - Đối tượng quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 4, gồm Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo. - Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo. | 2,5 | 300 |
5. Xin hỏi mức trợ cấp khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập cho cho các đối tượng là trẻ em được bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý?
Trả lời:
Theo Điều 8 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, các đối tượng là trẻ em được bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý; trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi được gia đình, cá nhân nuôi dưỡng; trẻ em là con của người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định tại Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế hoặc được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
6. Mức trợ cấp cứu trợ đột xuất thấp nhất đối với hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 12 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, mức trợ cấp cứu trợ đột xuất thấp nhất đối với hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra được quy định như sau:
- Hộ gia đình có người chết, mất tích: 3.000.000 đồng/người;
- Có người bị thương nặng: 1.000.000 đồng/người;
- Có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng: 5.000.000 đồng/hộ;
- Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét: 5.000.000 đồng/hộ.
Hộ gia đình có người là lao động chính bị chết, mất tích; hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất; hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng, lâm vào cảnh bị đói do thiếu lương thực, ngoài khoản trợ cấp nêu tại Điều 12 Nghị định này, được xem xét trợ giúp thêm các khoản sau cho đến khi hộ thoát khỏi diện nghèo: Miễn, giảm học phí cho người đang học văn hoá, học nghề; được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất. Nhà nước khuyến khích các địa phương nâng mức trợ cấp, trợ giúp cao hơn mức thấp nhất quy định tại Điều 12 Nghị định này.
VI. BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
1. Những người nào được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện?
Trả lời:
Theo Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng.
- Cán bộ không chuyên trách cấp xã.
- Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã.
- Người lao động tự tạo việc làm.
- Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã nhận bảo hiểm xã hội một lần.
- Người tham gia khác.
2. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như thế nào?
Trả lời:
Nguyên tắc bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình.
Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập.
Việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện phải đơn giản, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ.
3. Xin cho biết hành vi nào bị nghiêm cấm khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện?
Trả lời:
Điều 6 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
1. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm:
a) Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xoá làm sai lệch những nội dung liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện;
b) Làm giả các văn bản để đưa vào hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện.
2. Sử dụng Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện sai mục đích, sai chính sách, chế độ.
3. Gây phiền hà, trở ngại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm:
a) Gây khó khăn, cản trở, làm chậm việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;
b) Không cấp sổ bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định.
4. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm xã hội tự nguyện.
4. Quyền và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện?
Trả lời:
Điều 7Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định quyền và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có các quyền sau đây:
- Được cấp sổ bảo hiểm xã hội;
- Nhận lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội tự nguyện đầy đủ, kịp thời, thuận tiện theo quy định của Nghị định này;
- Hưởng bảo hiểm y tế khi đang hưởng lương hưu;
- Yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội;
- Khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc tổ chức, cá nhân thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện có hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện;
- Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có trách nhiệm sau đây:
- Đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo phương thức và mức đóng theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội tự nguyện;
- Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định.
5. Chị B sinh năm 1983, là lao động tự do, tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện từ tháng 3/2008. Xin hỏi chị B phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bao nhiêu năm thì được hưởng lương hưu hàng tháng?
Trả lời:
Theo Điều 9 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng. Như vậy, nếu chị B đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ 20 năm thì khi đủ 55 tuổi, chị B sẽ được hưởng lương hưu hàng tháng.
6. Mức lương hưu hằng tháng của bảo hiểm xã hội tự nguyện được xác định như thế nào?
Trả lời:
Điều 10 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định:
Mức lương hưu hằng tháng của người đủ điều kiện hưởng lương hưu được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 16 Nghị định này hoặc mức bình quân tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 17 Nghị định này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
Mức lương hưu hằng tháng của người đủ điều kiện hưởng lương hưu bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi thì giảm 1%.
Khi tính mức lương hưu hằng tháng đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ 20 n��m trở lên, mà mức lương hưu hằng tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng lương hưu thì được điều chỉnh bằng mức lương tối thiểu chung.
Khi tính mức lương hưu hằng tháng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu quy định tại Điều 11 Nghị định này, nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng được tính là nửa năm; từ trên 6 tháng đến đủ 12 tháng tính tròn là một năm.
7. Ông H hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi, có mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội là 1.100.000 đồng/tháng. Nếu ông H tham gia đóng bảo hiểm 35 năm thì trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của ông H là bao nhiêu?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH ngày 31/3/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số190/2007/NĐ-CP thì mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, được tính như sau:
Trong đó:
- N : số năm đóng bảo hiểm xã hội, một năm tính đủ 12 tháng.
- Mbqtn : mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 5 mục 1 phần II Thông tư này.
Ông H có mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội là 1.100.000 đồng/tháng. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông H là 35 năm thì trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của ông H là:
(35 – 30) x 0,5 tháng x 1.100.000 đồng/tháng = 2.750.000 đồng
8. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần trong các trường hợp nào?
Trả lời:
Theo Điều 13Nghị định số190/2007/NĐ-CP, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có dưới 15 năm đóng bảo hiểm xã hội.
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội mà không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội.
- Chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội mà không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần.
- Ra nước ngoài để định cư.
9. Bà H có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần. Nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 18 năm, mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội là 950.000 đồng/tháng. Vậy mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của bà H là bao nhiêu?
Trả lời:
Theo quy định tại Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH, mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của bà H được tính theo công thức:
Trong đó:
- N : số năm đóng bảo hiểm xã hội, một năm tính đủ 12 tháng.
- Mbqtn : mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
Bà H có thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 18 năm, mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội là 950.000 đồng/tháng, mức bảo hiểm xã hội một lần của bà H là: 18 x 1,5 tháng x 950.000 đồng/tháng = 25.650.000 đồng
10. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được xác định như thế nào?
Trả lời:
Điều 16 Nghị định số190/2007/NĐ-CP quy định: mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính theo công thức sau:
| Mức bình quân thu nhập | Tổng mức thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện | |
| = | _______________________ | |
| tháng đóng BHXH tự nguyện | Tổng số tháng đóng BHXH tự nguyện |
Mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội nêu trên khi tính sẽ được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt (Điều 18 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP).
11. Ông K có 15 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc với mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 2.200.000 đồng/tháng và có 10 năm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện với tổng các mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện là 138.000.000 đồng. Vậy mức bình quân tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của ông K được tính như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 79 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Điều 17 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện (gọi tắt là Nghị định số 190/2007/NĐ-CP) và điểm b, khoản 6, mục 1, phần II Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH ngày 31/01/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP (gọi tắt là Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH) thì mức bình quân tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính theo công thức sau
Theo công thức tính này thì mức bình quân tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của ông K sẽ là:
= 1.780.000đồng/tháng
Khi tính mức bình quân tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội, thì tiền lương, tiền công đối với đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện còn được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt quy định tại Điều 32 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 và Điều 18 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP.
12. Đề nghị cho biết các trường hợp bị tạm dừng hưởng lương hưu đối với người đang hưởng lương hưu hàng tháng?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP thì trong các trường hợp sau, người đang hưởng lương hưu hàng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu:
a) Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
b) Xuất cảnh trái phép;
c) Bị Toà án tuyên bố là mất tích.
Lương hưu hằng tháng được tiếp tục thực hiện từ tháng liền kề khi người bị phạt tù đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc khi người được Toà án tuyên bố là mất tích trở về hoặc người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp. Trong trường hợp người phải chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo, nếu Toà án có kết luận bị oan thì được truy hoàn tiền lương hưu trong thời gian bịtạm dừng.
13. Chế độ trợ cấp mai táng cho người tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP, các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng:
a) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện quy định tại Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP đã có ít nhất 05 năm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện;
b) Người đang hưởng lương hưu.
Mức trợ cấp mai táng mà thân nhân người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng là 10 tháng tiền lương tối thiểu.
14. Bà T hiện đang đóng bảo hiểm xã hội và đã đóng được 2 năm, mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện là 900.000 đồng/tháng. Không may bà T bị chết trong một vụ tai nạn giao thông. Vậy thân nhân của bà T sẽ được hưởng mức trợ cấp tuất một lần là bao nhiêu?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH thì mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 16 Nghị định này. Cụ thể, mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân người đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 01 năm trở lên theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP được tính như sau:
Trong đó:
- N: số năm đóng bảo hiểm xã hội, một năm tính đủ 12 tháng.
- Mbqtn: mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Như vậy, mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của bà T được tính như sau: 2 x 1,5 tháng x 900.000 đồng/tháng = 2.700.000 đồng
15. Xin hỏi phương thức đóng và mức đóng hàng tháng vào Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 26 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và mục 1, mục 2, phần II, Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH quy định về phương thức đóng và mức đóng hàng tháng vào Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
1. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đăng ký với tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một trong các phương thức sau đây:
a) Hằng tháng;
b) Hằng quý;
c) Sáu tháng một lần.
2. Mức đóng hằng tháng vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
Trong đó:
a) - Lmin: mức lương tối thiểu chung;
- m: là số nguyên, ≥ 0.
b) Tỷ lệ phần trăm đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như sau:
- Từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12 năm 2009 bằng 16%;
- Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 bằng 18%;
- Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 bằng 20%;
- Từ tháng 01 năm 2014 trở đi bằng 22%.
16. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về việc tạm dừng đóng vào Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện?
Trả lời:
Điều 27 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định việc tạm dừng đóng vào quỹ bảohiểm xã hội tự nguyện như sau:
1. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được coi là tạm dừng đóng khi không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và không có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần.
2. Người đang tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, nếu tiếp tục đóng thì phải đăng ký lại phương thức đóng và mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng với tổ chức bảo hiểm xã hội. Việc đăng ký lại được thực hiện ít nhất sau 3 tháng, kể từ tháng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tạm dừng đóng.
17.Vừa qua, tôi xem truyền hình thì được biết Nhà nước có chính sách đóng bảo hiểm xã hội tự nguyệnnhằm thực hiện chính sách chăm lo an sinh xã hội cho nhân dân. Tôi muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để về già có thu nhập ổn định cuộc sống. Vậy tôi có được cấp sổ bảo hiểm xã hội không? Thủ tục cấp sổ bảo hiểm xã hội được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 33 và Điều 34Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định như sau:
1. Về Sổ bảo hiểm xã hội:
- Sổ bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành cấp cho các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này để theo dõi quá trình đóng bảo hiểm xã hội.
- Mỗi người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được cấp một Sổ bảo hiểm xã hội và được sử dụng chung cho cả thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trước đó đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì sử dụng Sổ bảo hiểm xã hội đã được cấp để theo dõi quá trình đóng bảo hiểm xã hội.
2. Về Cấp Sổ bảo hiểm xã hội:
- Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nộp tờ khai cá nhân cho tổ chức bảo hiểm xã hội nơi cư trú. Mẫu tờ khai cá nhân do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định.
- Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tổ chức Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cấp Sổ bảo hiểm xã hội; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
18. Đề nghị cho biết, pháp luật quy định như thế nào về hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần và giải quyết hưởng chế độ hưu trí?
Trả lời:
Điều 35 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần và giải quyết hưởng chế độ hưu trí theo Điều 123 và Điều 124 Luật Bảo hiểm xã hội như sau:
1. Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần bao gồm:
a) Sổ bảo hiểm xã hội;
b) Tờ khai cá nhân theo mẫu do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định.
2. Giải quyết hưởng chế độ hưu trí:
- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thông báo trước ít nhất là 3 tháng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nộp hồ sơ theo quy định nhưtrên cho tổ chức bảo hiểm xã hội nơi cư trú.
- Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Thời điểm hưởng lương hưu kể từ tháng liền kề sau tháng tổ chức bảo hiểm xã hội nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu.
19. Việc giải quyết chế độ tử tuất đối với người tham gia đóng bảo hiểm xã hội được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 123, 124 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Điều 36 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP quy định về hồ sơ hưởng chế độ tử tuất và giải quyết chế độ tử tuất như sau:
1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao gồm:
a) Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện;
b) Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
c) Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
2. Giải quyết chế độ tử tuất:
- Thân nhân của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nộp hồ sơ hưởng chế độ tử tuất cho tổ chức bảo hiểm xã hội.
- Tổ chức Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
VII. HỌ, HỤI, BIÊU, PHƯỜNG
1. Xin hỏi hình thức họ có được pháp luật công nhận không?
Trả lời:
Họ là một hình thức giao dịch về tài sản đã được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định : Họ, hụi, biêu, phường là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân.
Theo quy định tại các Điều 4, 5, 6, 7, 8 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 về họ, hụi, biêu, phường (gọi tắt là Nghị định số 144/2006/NĐ-CP), hình thức họ bao gồm họ không có lãi và họ có lãi. Họ có lãi bao gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Chủ họ là người tổ chức, quản lý họ, thu các phần họ và giao các phần họ đó cho thành viên được lĩnh họ trong mỗi kỳ mở họ cho tới khi kết thúc họ, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Chủ họ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Thành viên là người tham gia họ, góp phần họ và được lĩnh họ. Thành viên có thể góp một hoặc nhiều phần họ trong một họ. Thoả thuận về họ được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia họ có yêu cầu. Tuỳ theo từng loại họ, những người tham gia họ có thể thoả thuận về các nội dung sau đây: chủ họ, số người tham gia, phần họ, kỳ mở họ, thể thức góp họ và lĩnh họ, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia họ, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ, việc chuyển giao phần họ, việc ra khỏi họ, chấm dứt họ và các nội dung khác.
2. Mấy anh em chúng tôi dự định tổ chức chơi họ nhằm mục đích tương trợ cho nhau. Chúng tôi được biết, việc chơi họ cần phải lập Sổ họ và có trường hợp họ có lãi xuất. Đề nghị cho chúng tôi biết quy định của pháp luật về Sổ họ và lãi xuất chơi họ?
Trả lời:
Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về Sổ họ và lãi suất chơi họ như sau :
1. Về Sổ họ:
- Chủ họ phải lập và giữ sổ họ. Trong trường hợp họ không có chủ họ thì những người tham gia họ uỷ quyền cho một thành viên lập và giữ sổ họ.
- Tuỳ theo từng loại họ, sổ họ có thể bao gồm các nội dung sau:
a) Tên, địa chỉ của chủ họ và các thành viên trong họ;
b) Phần họ, kỳ mở họ, thể thức góp họ và lĩnh họ;
c) Số tiền, tài sản khác đã góp họ hoặc đã lĩnh họ;
d) Việc chuyển giao phần họ;
đ) Việc ra khỏi họ và chấm dứt họ;
e) Chữ ký hoặc điểm chỉ của các thành viên khi góp họ và lĩnh họ;
g) Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của họ.
2. Về lãi suất:
Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suất đối với phần họ được thực hiện theo quy định tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là:
- Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
- Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
3. Xin hỏi pháp luật quy định về họ không có lãi và xác định thứ tự lĩnh họ như thế nào ?
Trả lời:
Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về họ không có lãi và xác định thứ tự lĩnh họ như sau:
1. Họ không có lãi :
Họ không có lãi là họ mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia họ, thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Thành viên đã lĩnh họ có nghĩa vụ tiếp tục góp họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ.
2. Xác định thứ tự lĩnh họ:
Thứ tự lĩnh họ trong họ không có lãi được xác định bằng hình thức bốc thăm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Thành viên tham gia họ có nghĩa vụ gì ?
Trả lời:
Điều 13 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định nghĩa vụ của các thành viên tham gia họ như sau :
1. Góp phần họ theo thoả thuận cho chủ họ trong trường hợp có chủ họ hoặc cho thành viên được lĩnh họ.
2. Bồi thường thiệt hại cho những người tham gia họ, nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại.
3. Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
4. Trong trường hợp không có chủ họ thì thành viên được uỷ quyền lập và giữ sổ họ có các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 15 Nghị định này, cụ thể là:
- Lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ.
- Cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu.
5. Tôi đang tham gia chơi họ với một số anh em hàng xóm. Hiện nay tôi không muốn tham gia họ nữa mà muốn chuyển giao phần họ này cho con trai tôi có được không ?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, thành viên tham gia họ có quyền sau đây :
Chuyển giao phần họ theo quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Như vậy, ông/bà hoàn toàn có quyền chuyển giao phần họ của ông/bà cho con trai.
6. Ông H tham gia chơi họ cùng một số người quen trong làng. Thỉnh thoảng, ông có đề nghị với ông K (chủ họ) xem Sổ họ và cung cấp một số thông tin liên quan đến họ nhưng ông K đều từ chối với lý do các vấn đề liên quan đến họ đã được thông báo công khai, rõ ràng ngay từ khi bắt đầu chơi họ. Việc làm của ông K đúng hay sai?
Trả lời:
Khoản 5 Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định một trong các nghĩa vụ của chủ họ là :
« 5. Cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu”.
Như vậy việc ông K từ chối cho ông Hxem Sổ họ và cung cấp một số thông tin liên quan đến họ khi ông H có yêu cầu là không đúng với quy định của pháp luật.
7. Đề nghị cho biết quyền của chủ họ được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 16 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định quyền của chủ họ như sau:
1. Yêu cầu các thành viên trong họ phải góp phần họ.
2. Yêu cầu thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ.
3. Yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó.
4. Các quyền khác theo thoả thuận.
8. Thế nào là họ có lãi ? Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về hình thức họ này ?
Trả lời:
Họ có lãi là hình thức họ được pháp luật công nhận.Điều 17 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định hình thức họ có lãi như sau:
Họ có lãi là họ mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia họ, thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và phải trả lãi cho các thành viên khác. Thành viên đã lĩnh họ có nghĩa vụ tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ.
Điều 18 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định việc xác định thành viên lĩnh họ trong họ cólãi như sau :
- Thành viên lĩnh họ trong từng kỳ mở họ là người trả lãi cao nhất, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Trong một kỳ mở họ mà có nhiều thành viên cùng trả một mức lãi và mức lãi đó là mức lãi cao nhất thì những người này bốc thăm để xác định thành viên được lĩnh họ, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Thành viên đã lĩnh họ không được tham gia trả lãi trong các kỳ mở họ tiếp theo, trường hợp một thành viên có nhiều phần họ trong một họ thì thành viên này có quyền trả lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó tham gia trong một họ.
9. Họ đầu thảo là gì ? Thành viên trong họ đầu thảo có quyền và nghĩa vụ gì ?
Trả lời:
Điều 19, Điều 20 và Điều 21 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về họ đầu thảo, quyền và nghĩa vụ của thành viên trong họ đầu thảo như sau :
Họ đầu thảo là họ mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ được lĩnh toàn bộ các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Trong các kỳ mở họ khác, thành viên trả lãi cao nhất được lĩnh họ và phải trả lãi cho các thành viên khác.
Nghĩa vụ của thành viên trong họ đầu thảo:
- Góp phần họ.
- Trả lãi cho các thành viên khác khi được lĩnh họ.
- Bồi thường thiệt hại cho những người tham gia họ nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại.
- Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
Quyền của thành viên trong họ đầu thảo:
- Đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở họ, trừ các thành viên đã lĩnh họ, trường hợp một thành viên có nhiều phần họ trong một họ thì thành viên này có quyền trả lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó tham gia trong một họ.
- Hưởng lãi từ thành viên được lĩnh họ.
- Khi đến kỳ mở họ, thành viên được lĩnh họ có quyền nhận các phần họ từ chủ họ hoặc các thành viên khác trong họ.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm.
- Chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Ra khỏi họ theo thoả thuận.
- Yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ.
- Các quyền khác theo thoả thuận.
10. Chủ họ đầu thảo có được hưởng khoản hoa hồng từ các thành viên hay không ? Nghĩa vụ và quyền của các thành viên trong họ hưởng hoa hồng được pháp luật quy định ra sao ?
Trả lời:
Họ hưởng hoa hồng là họ mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ có trách nhiệm thu phần họ của các thành viên góp họ để giao cho thành viên được lĩnh họ. Thành viên được lĩnh họ phải trả lãi cho các thành viên khác và phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ. Mức hoa hồng do những người tham gia họ thoả thuận.
Theo quy định của pháp luật, các thành viên trong họ hưởng hoa hồng có các quyền và nghĩa vụ như thành viên trong họ đầu thảo (đã nêu tại câu...), ngoài ra thành viên trong họ hưởng hoa hồng còn có nghĩa vụ trả hoa hồng cho chủ họ.
11. Pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ và quyền của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng?
Trả lời:
Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ và quyền của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng như sau:
1. Nghĩa vụ của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng:
Chủ họ trong họ hưởng hoa hồng có các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 15 Nghị định này, cụ thể là:
- Lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ.
- Thu phần họ của các thành viên.
- Giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ.
- Nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ.
- Cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu.
- Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
2. Quyền của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng:
- Được hưởng hoa hồng từ các thành viên được lĩnh họ.
- Yêu cầu các thành viên góp phần họ.
- Yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó.
12. Trách nhiệm của chủ họ do không giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định trách nhiệm của chủ họ do không giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ như sau: Trong trường hợp chủ họ đã thu các phần họ của các thành viên nhưng không giao cho thành viên được lĩnh họ thì theo yêu cầu của thành viên có quyền lĩnh họ, chủ họ phải giao các phần họ đã thu được cho thành viên đó và bồi thường thiệt hại nếu có.
Chủ họ phải trả lãi đối với các phần họ giao chậm theo mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian giao chậm tại thời điểm giao các phần họ.
13. Đến kỳ mở họ, ông P không thể góp phần họ của mình vì mấy hôm trước ông đã chi hết số tiền mà gia đình dành dụm được để đưa con đi thi đại học. Do vậy, ông K (chủ họ) đã phải góp phần họ thay cho ông P. Đến khi có tiền góp họ, ông P trả cho ông K phần họ chậm trả thì ông K đề nghị ông P phải thanh toán cho ông cả khoản lãi đối với phần họ mà ông P chậm trả. Xin hỏi đề nghị của ông K có đúng pháp luật không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định như sau: Trong trường hợp thành viên không góp phần họ, chủ họ đã góp các phần họ thay cho thành viên đó thì thành viên phải trả cho chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả. Mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả các phần họ.
Do vậy, đề nghị của ông K là đúng pháp luật.
VIII. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỐ, TRẺ EM
1. Vì cho rằng nếu con dâu sinh con trong năm nay hoặc năm sau thì đứa bé sinh ra sẽ không hợp tuổi với bố nó nên bà H đã ép buộc con dâu phải đi đặt vòng tránh thai. Bà H làm như vậy có đúng pháp luật không?
Trả lời:
Hành vi ép buộc con dâu phải sử dụng biện pháp tránh thai của bà H không đúng với quy định của pháp luật. Việc lựa chọn áp dụng biện pháp tránh thai hay không là quyền của mỗi người.
Theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 8 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP thì người có hành vi ép buộc người khác phải sử dụng biện pháp tránh thai sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
2. Vì lý do lựa chọn giới tính, một số người đã nhờ bác sỹ phá bỏ thai nhi. Xin hỏi hành vi của bác sỹ bị xử lý như thế nào khi biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính?
Trả lời:
Con cái không phân biệt là trai hay gái đều là vốn quý, niềm vui, hạnh phúc của mỗi gia đình. Thế nhưng, thời gian vừa qua một số bà mẹ đã phá thai vì muốn có con trai nhưng lại mang thai là con gái hoặc ngược lại. Tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi, mà đặc biệt là lựa chọn giới tính nam, hiện đang có chiều hướng gia tăng với tỷ lệ khoảng 112 bé trai sinh ra mới có 100 bé gái chào đời.
Nhằm hạn chế tình trạng trên, pháp luật đã có những quy định xử phạt đối với người phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính. Điều b, khoản 3, Điều 9 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi “Phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính”.
Như vậy, những người phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng.
3. Đề nghị cho biết, hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và cung cấp phương tiện tránh thai trái với quy định của pháp luật bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 10 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và cung cấp phương tiện tránh thai trái với quy định của pháp luật bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền bằng gấp đôi giá trị của phương tiện tránh thai đã vi phạm nhưng mức tối đa không vượt quá 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Kinh doanh, cung cấp phương tiện tránh thai không đúng tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của pháp luật;
b) Kinh doanh, cung cấp phương tiện tránh thai kém chất lượng đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chất lượng, kiểm định và kết luận bằng văn bản;
c) Kinh doanh, cung cấp phương tiện tránh thai quá hạn sử dụng ghi trên sản phẩm, bao bì sản phẩm hoặc tuy chưa quá hạn sử dụng ghi trên sản phẩm, bao bì sản phẩm nhưng đã có thông báo không được tiếp tục sử dụng của cơ quan có thẩm quyền;
d) Sản xuất, nhập khẩu phương tiện tránh thai không đúng tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của pháp luật;
đ) Sản xuất, nhập khẩu phương tiện tránh thai kém chất lượng đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chất lượng, kiểm định và kết luận bằng văn bản;
e) Nhập khẩu phương tiện tránh thai quá hạn sử dụng ghi trên sản phẩm, bao bì sản phẩm;
g) Kinh doanh, nhập khẩu và cung cấp phương tiện tránh thai chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép lưu hành ở Việt Nam.
2. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu toàn bộ phương tiện tránh thai trái với quy định của pháp luật;
b) Tước quyền sử dụng giấy phép từ 03 tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc tiêu huỷ phương tiện tránh thai có hại cho sức khoẻ con người;
b) Buộc cá nhân, tổ chức nộp lại số tiền bằng giá trị phương tiện tránh thai đã được tiêu thụ, tẩu tán trái với quy định của pháp luật.
4. Hành vi tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số trái quy định củapháp luật bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 11 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành vi tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số trái quy định của pháp luật bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số trái đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thông tin về dân số sai lệch, không có căn cứ pháp lý, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc chấp nhận về thông tin đó;
b) Lợi dụng việc tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình để phát tán tài liệu, vật phẩm có nội dung mang tính đồi trụy, thô tục hoặc trái với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cơ quan, tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm nêu trên.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tài liệu, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm nêu trên;
b) Tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm nêu trên.
5. Chị B có con 3 tuổi bị viêm họng, sốt cao. Chị đưa con đến khám bệnh theo Thẻ khám bệnh, chữa bệnh của con chị tại Bệnh viện huyện. Sau khi khám và kê đơn thuốc xong, bác sỹ P yêu cầu chị B trả tiền khám bệnh cho con chị B. Việc làm của bác sỹ P bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Trẻ em là tương lai của dân tộc, là thế hệ kế tục sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc mai sau. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm bảo đảm cho các em có cuộc sống tốt đẹp, được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần vừa là truyền thống đạo lý, vừa là trách nhiệm của mọi gia đình, xã hội Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm đầu tư cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em. Nhiều chính sách ưu tiên cho trẻ em đã được xây dựng và thực thi, trong đó có chính sách khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại cơ sở y tế công lập. Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em dưới sáu tuổi được Nhà nước cấp Thẻ khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập” (Điểm a, khoản 3, Điều 18).
Trường hợp bác sỹ khám bệnh cho con chị B mới 3 tuổi nhưng đã đề nghị chị phải thanh toán tiền khám bệnh là vi phạm pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 12 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP:Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi “Thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi tại các cơ sở y tế công lập trái với quy định của pháp luật”.
Như vậy, bác sỹ P sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng. Ngoài ra, bác sỹ P còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp lại số tiền đã nhận của chị B.
6. Cha, mẹ bỏ rơi con sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 13 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành vi cha, mẹ bỏ rơi con sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Ngay sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng;
b) Cha, mẹ để con cho người khác nuôi, cắt đứt quan hệ, không thực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ em, mặc dù có khả năng thực hiện nghĩa vụ này, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi theo quy định của pháp luật;
c) Cha, mẹ bỏ mặc con tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em này, để trẻ em này rơi vào hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Điều 40 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc cá nhân thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho trẻ em theo quy định của pháp luật do thực hiện hành vi quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.
7. Hiện nay, ở một số địa phương vẫn còn tình trạng cha, mẹ bắt con còn nhỏ đi lang thang để kiếm sống. Vậy hành vi trên sẽ bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP thì trường hợp cha, mẹ bắt con còn nhỏ đi lang thang để kiếm sống sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
8. Đề nghị cho biết, hành vi kích động tình dục trẻ em bị pháp luật xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 15 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành vi kích động tình dục trẻ em sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cho trẻ em tiếp xúc với văn hoá phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm;
b) Tác động vào cơ thể trẻ em nhằm kích động tình dục trẻ em.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi đưa hình ảnh của trẻ em vào văn hoá phẩm có nội dung khiêu dâm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu văn hoá phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm được sử dụng để thực hiện hành vi cho trẻ em tiếp xúc với văn hoá phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm và hành vi đưa hình ảnh của trẻ em vào văn hoá phẩm có nội dung khiêu dâm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm.
9. Ông P là chủ doanh nghiệp tư nhân được cấp giấy phép sản xuất đồ chơi cho trẻ em. Vì hám lợi, muốn bán được nhiều đồ chơi nên P đã cho sản xuất các loại đồ chơi kích động bạo lực như: súng, kiếm... có màu sắc và hình thức như thật gây nên sự bất bình trong dư luận. Hành vi của ông P sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điểm b, khoản 2, Điều 16 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định: 2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi “Sản xuất, vận chuyển, kinh doanh, tàng trữ trò chơi kích động bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, có hại cho sự phát triển nhân cách, sức khoẻ của trẻ em”.
Như vậy, ông P sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Ngoài ra, ông P còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn và tịch thu sản phẩm có nội dung kích động bạo lực.
10. Hai vợ chồng S và H là chủ quán phở thuê cháu T, 14 tuổi, phụ giúp bán hàng. Một lần, do cháu T không làm đúng ý của mình nên S và H đã đánh cháu T thâm tím mặt, chảy máu đầu. Hành vi của S và H sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể trẻ em làm cho trẻ em đau đớn về thể xác và tinh thần”.
Như vậy, hai vợ chồng S và H đánh cháu T thâm tím mặt, chảy máu đầu sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra S và H còn phải chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh cho cháu T.
11. Pháp luật quy định về xử lý hành vi xúi giục trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác như thế nào?
Trả lời:
Điều 18 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định về xử lý hành vi xúi giục trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác như sau:
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi xúi giục, kích động trẻ em dưới mọi hình thức làm cho trẻ em này thù ghét cha, mẹ, người giám hộ hoặc các thành viên khác trong gia đình.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xúi giục, kích động trẻ em xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức cho trẻ em xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác.
12. Đề nghị cho biết hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng sức lao động trẻ em vào công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 19 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng sức lao động trẻ em vào công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động sẽ bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cha, mẹ bắt con, người giám hộ bắt trẻ em mà mình giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em mà mình nuôi dưỡng làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng hoá, tiền tệ trái phép ở trong nước.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng lậu, hàng hoá, tiền tệ trái phép qua biên giới.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tước quyền sử dụng giấy phép từ 03 tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc cá nhân, tổ chức nộp lại số tiền có được do thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
13. Tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở việc học tập của trẻ em thì bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số, trẻ em, hành vi cản trở việc học tập của trẻ em bị xử lý như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học; dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học; cố ý không thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định, không bảo đảm thời gian, điều kiện học tập cho trẻ em.
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Bắt trẻ em bỏ học, nghỉ học để gây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật; phá hoại cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục;
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện của cá nhân, tổ chức được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cá nhân, tổ chức khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi hoặc bồi thường để khôi phục lại cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy đã bị phá hoại do thực hiện hành vi vi phạm.
14. Em H bị ông M bắt quả tang khi đang lẻn vào sân nhà ông để lấy trộm xe đạp. Ông M đã đánh và trói em H vào gốc cây ở vườn. Hành vi của ông M bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điều 21 Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số, trẻ em quy định hành vi áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật bị xử phạt như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Lăng nhục, bắt làm những việc có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm đối với trẻ em vi phạm pháp luật; xâm phạm thân thể, gây đau đớn về thể xác hoặc làm tổn thương về tinh thần đối với trẻ em vi phạm pháp luật.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cá nhân, tổ chức chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em do thực hiện hành vi vi phạm.
15. Xưởng cơ khí của hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Đ được đặt gần nhà trẻ mẫu giáo X và phát ra tiếng ồn rất lớn làm ảnh hưởng tới việc nghỉ ngơi, vui chơi và sức khỏe của các cháu. UBND phường đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu gia đình ông Nguyễn Tiến Đ chuyển xưởng cơ khí đi nơi khác nhưng ông Đ không thực hiện. Xin cho biết trong trường hợp này, hành vi của gia đình ông Đ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 22, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số, trẻ em, hành vi đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc ngược lại bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ trong phạm vi ảnh hưởng đến cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, cơ sở văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em;
- Đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh có chất thải độc hại, có tiếng ồn lớn trong phạm vi ảnh hưởng đến cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, cơ sở văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em;
- Đặt cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, cơ sở văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em trong phạm vi ảnh hưởng của cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh có chất thải độc hại, có tiếng ồn lớn.
áp dụng quy định trên, gia đình ông Nguyễn Văn Đ có thể bị phạt tiền từ 5000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đặt xưởng cơ khí gây tiếng ồn trong phạm vi ảnh hưởng đến cơ sở nuôi dưỡng trẻ em.
Ngoài ra, gia đình ông Đ bị tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh không thời hạn và buộc thực hiện những biện pháp để khắc phục tình trạng gây ồn.
16. Hành vi sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điều 23, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số, trẻ em quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em.
Người vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số tiền chênh lệch có được do thực hiện hành vi vi phạm; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng, lắp đặt thiết bị trái phép do thực hiện hành vi vi phạm.
17. Hành vi không ghi tuổi của trẻ em không được sử dụng trên xuất bản phẩm, đồ chơi nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Điều 24, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số, trẻ em quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Không ghi tuổi của trẻ em không được sử dụng trên xuất bản phẩm, đồ chơi nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em;
- Không thông báo tuổi của trẻ em không được xem, nghe chương trình phát thanh, truyền hình, nghệ thuật, điện ảnh và các cuộc trình diễn nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em.
Như vậy, hành vi không ghi tuổi của trẻ em không được sử dụng trên xuất bản phẩm, đồ chơi nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
IX. MỘT SỐ TỘI PHẠM HÌNH SỰ
1. Khuất Thị V bị bắt do đã lừa bán hai phụ nữ sang Trung Quốc làm gái mại dâm. Xin hỏi Khuất Thị V phạm tội gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật hình sự năm 1999, Khuất Thị V đã phạm tội mua bán phụ nữ: Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Khoản 2, Điều 119 cũng quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm:
- Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm;
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Để đưa ra nước ngoài;
- Mua bán nhiều người;
- Mua bán nhiều lần.
Áp dụng quy định trên, Khuất Thị V sẽ bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm. Ngoài ra, Khuất Thị V còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.
2. Qua điều tra lấy lời khai, Bộ đội Biên phòng tỉnh P đã xác định Vũ Văn T và Vũ Văn M có hành vi tổ chức mua bán trẻ em, đưa sang Trung Quốc để sử dụng vào mục đích mại dâm. Xin cho biết, với hành vi phạm tội trên, Vũ Văn T và Vũ Văn M bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định: Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Vì động cơ đê hèn;
- Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em;
- Để đưa ra nước ngoài;
- Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;
- Để sử dụng vào mục đích mại dâm;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Gây hậu quả nghiêm trọng.
Đối chiếu với quy định trên, Vũ Văn T và Vũ Văn M có hành vi mua bán trẻ em với các tình tiết tăng nặng là có tổ chức, đưa ra nước ngoài để sử dụng vào mục đích mại dâm, do vậy có thể bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, cả hai còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.
3. Do nghi ngờ cháu V (14 tuổi) - là người giúp việc của mình lấy cắp 100.000 đồng, H đã dùng dây điện trói tay cháu V vào cầu thang và cột chân cháu vào móc cửa trong tư tế nằm sấp, tiếp đó, H lấy dây diện đánh tới tấp vào tay, chân, lưng cháu V gây thương tích (kết quả giám định cho thấy tỷ lệ thương tích là 27%). Xin cho biết, hành vi trên của H phạm tội gì?
Trả lời:
Hành vi đánh đập người giúp việc trên của H đã cấu thành tội hành hạ người khác theo quy định tại Điều 110 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Theo quy định tại khoản 2 Điều này, hành vi của H hành hạ trẻ em có thể bị phạt tù từ một năm đến ba năm: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm: Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật; đối với nhiều người.
4. Nghi chị T có quan hệ yêu đương với chồng mình, đã nhiều lần K chặn đường chị T ném phân vào người chị T, xỉ nhục, chửi rủa chị T trước cổng cơ quan của chị T. Hành vi của K có phạm tội không?
Trả lời:
K đã có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi trên của K đã phạm tội làm nhục người khác theo Điều 121 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì K phạm tội nhiều lần nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật hình sự năm 1999 với mức hình phạt là phạt tù từ một năm đến ba năm.
5. Để thực hiện dự án xây dựng các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học đã được UBND tỉnh S phê duyệt, UBND tỉnh đã ra quyết định thu hồi hơn 13.500 m2 đất. Trong quá trình thực hiện dự án, một số người trong số hộ dân sinh sống ở khu vực thuộc diện phải di dời đã làm đơn khiếu nại gửi các cấp lãnh đạo từ địa phương đến trung ương với mục đích đòi quyền lợi cá nhân. Lãnh đạo UBND tỉnh S đã tổ chức, tiếp xúc đối thoại trả lời các thắc mắc kiến nghị của người dân. Tuy nhiên, việc giải quyết bất thành, một số hộ dân vẫn tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên cơ quan cấp trên, tố cáo ông Chủ tịnh UBND tỉnh S và một số đồng chí lãnh đạo tỉnh "lợi dụng chức vụ quyền hạn, đuổi dân, cướp đất..." mà không có căn cứ. Hỏi: Với hành vi trên, những đối tượng làm đơn tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý về tội gì?
Trả lời:
Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Áp dụng quy định trên đây, những đối tượng làm đơn tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý về tội vu khống.
6. Nguyễn Hoàng M là nhân viên của Chi nhánh Công ty cấp nước thành phố H. Lợi dụng công việc được giao, biết được một số hộ dân đã làm đơn nộp cho công ty xin lắp đặt đồng hồ nước nhưng chưa được giải quyết, M đã trực tiếp liên hệ với tổ trưởng các tổ dân phố và các hộ dân tại phường T, thỏa thuận giá cả và thời gian lắp đặt đồng hồ nước. Tổng số tiền mà các hộ dân trên địa bàn phường T đã đưa cho M là hơn 160 triệu đồng. Sau đó M đã bỏ trốn cùng với số tiền trên. Trong trường hợp này, M bị xử lý về tội gì?
Trả lời:
Hành vi trên của Nguyễn Hoàng M đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Trong trường hợp này, M đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền hơn 157 triệu đồng của các hộ dân, vì vậy, M sẽ bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
7. Thời gian gần đây, chồng tôi chung sống công khai như vợ chồng với một đồng nghiệp nữ ở cơ quan. Xin hỏi chồng tôi có phạm tội không?
Trả lời:
Chồng chị đã phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999: Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...
Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát,v.v...
b) Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
8. Một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có những dấu hiệu nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 148 Bộ luật hình sự năm 1999 thì chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tảo hôn khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:
- Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn;
- Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó;
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tuổi kết hôn đối với nam là từ 20 tuổi trở lên, tuổi kết hôn đối với nữ là từ 18 tuổi trở lên.
9. Do nghiện rượu nặng, H thường xuyên mắng chửi, đánh đập vợ, đòi tiền đi uống rượu. H đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Xin hỏi H có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Trả lời:
Hành vi của H đã phạm tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình theo Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999: Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ sưu tầm