Pháp luật không đơn thuần là công cụ quản lý nhà nước, nó còn được xác định là công cụ để mỗi người tự bảo vệ lợi ích của mình, công cụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa người người trong cuộc sống nhằm thiết lập, duy trì, bảo vệ trật tự của đời sống chung.
1. Định nghĩa pháp luật:
Pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nn ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng nhất định. (Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật/ Trường Đại học Luật Hà Nội).
Quy tắc xử xự là những quy ước ấn định cho sự hoạt động của con người. Cho phép con người được làm gì, không được làm gì và phải làm gì trong những điều kiện nhất định. Tính bắt buộc chung thể hiện phạm vi của phạm luật.
Quy phạm pháp luật: Là những quy tắc xử sự trong các trường hợp cụ thể do Nhà nước quy định có tính chất bắt buộc chung. Đây là bộ phận nhỏ nhất của hệ thống, mang tính cụ thể cũng như tính khái quát. Các bộ phận khác của hệ thống pháp luật đều được hình thành do sự kết hợp của các quy phạm pháp luật. Ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật và được mô hình hoá bởi các quy phạm pháp luật;
2. Đặc trưng cơ bản của pháp luật:
2.1. Pháp luật có tính quyền lực nhà nước:
Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai và có quyền lực bao trùm toàn xã hội. Vì vậy, khi pháp luật được nhà nước ban hành vào bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người. Đặc trưng này chỉ có ở pháp luật. Các loại quy tắc xử sự khác chỉ có thể tác động trong một phạm vi hẹp, dưới những phương thức "nhẹ nhàng" hơn và được đảm bảo bằng dư luận xã hội, chứ không phải bằng quyền lực nhà nước như đối với pháp luật (trừ trường hợp đặc biệt được nhà nước quan tâm).
Tính quyền lực nhà nước thể hiện pháp luật mang tính bắt buộc, buộc phải thực hiện theo nếu không thực hiện sẽ dùng quyền lực nhà nước để cưỡng chế. Quyền lực nhà nước tới đâu thì pháp luật sẽ đi tới đó. Tính quyền lực nhà nước trong pháp luật thể hiện ở phạm vi của nó, với phạm vi rộng lớn, mọi cá nhân tổ chức, mọi lúc, mọi nơi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và tác động hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống. Nhà nước ban hành ra pháp luật và được bảo đảm thực hiện.
Ví dụ: Pháp luật quy định mọi chủ thể kinh doanh trên lãnh thổ quốc gia đều phải nộp thuế.
2.2. Pháp luật có tính quy phạm phổ biến:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự đó là những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung chung. Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi người (chủ thể) có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép. Vượt qua giới hạn đó là trái luật. Giới hạn đó được xxasc định ở nhiều khía cạnh khác nhau như cho phép, cấm đoán, bắt buộc....
Về nguyên tắc, pháp luật phải cụ thể, khuôn phép, mực thước, không thể lạm dụng hoặc tùy tiện. Vì vậy, nói đến pháp luật là phải xét đến các quy phạm cụ thể. Nếu không có quy phạm pháp luật được đặt ra thì cũng không thể quy kết một hành vi nào là vi phạm, là trái pháp luật. Những nguyên tắc: "Mọi người được làm tất cả mọi việc trừ những điều mà pháp luật nghiêm cấm", "mọi người đều bình đẳng trước pháp luật" được hình thành là dựa trên cơ sở của đặc trưng về tính quy phạm của pháp luật. Chính đặc trưng cơ bản này đã làm cho pháp luật ngày càng có "tính trội", hơn hẳn đối với các loại quy phạm xã hội trong xã hội văn minh, hiện đại.
Có thể thấy Pháp luật là chuẩn mực chung để đánh giá hành vi của con người, khuôn mẫu chung để tất cả mọi người khi ở trong điều kiện, hoàn cảnh, trường hợp mà pháp luật quy định tới thì đều phải ứng xử theo cách thức ứng xử đã đặt ra trước đó.
Ví dụ: Bất kì ai khi tham gia giao thông gặp đèn đỏ là phải dừng lại kể cả thủ tướng hay dân thường trừ những trường hợp pháp luật quy định.
Trong xã hội không chỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm. Đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng (như điều lệ của tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đều có tính quy phạm). Cũng như pháp luật, tất cả các quy phạm trên đều là khuôn mẫu, quy tắc xử sự của con người. Nhưng khác với đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quy phạm của pháp luật mang tính phổ biến. Đây chính là dấu hiệu để phân biệt pháp luật và các loại quy phạm nói trên.
Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ:
(i) Pháp luật là khuôn mẫu chung cho nhiều người.
(ii) Pháp luật được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn. Có thể thấy pháp luật nơi nào cũng như nhau đều áp dụng theo các chuẩn mực pháp lý.
ví dụ: trong Bộ luật Hình sự
"Điều 5 Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao."
2.3. Pháp luật có tính hệ thống:
Bản thân pháp luật là một hệ thống các quy phạm hay các quy tắc xử sự chung, các nguyên tắc, các khái niệm pháp lý....
Pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội bằng các tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó, làm cho quan hệ phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Mặc dù điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chúng có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, tạo nên một chính thể thống nhất.
Pháp luật bao gồm nhiều quy định khác nhau nhưng tất cả đều được sắp xếp theo một trình tự, thứ bậc thống nhất với nhau trong một trình tự, thứ bậc thống nhất với nhau trong một hệ thống. Chính nhờ tính chất này mà pháp luật được áp dụng dễ dàng và hiệu quả hơn trong hệ thống xã hội.
Tính hệ thống của pháp luật thể hiện ở các quy định của pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau và không được chồng chéo, không được mâu thuẫn lẫn nhau.
Ví dụ: Hiến pháp quy định về một lĩnh vực bất kì thì luật cụ thể phải quy định phù hợp với hiến pháp, nghị định mà chi tiết hóa luật phải phù hợp với các quy định của luật chứ không được trái ngược nhau, cùng một vấn đề các văn bản khác nhau cũng phải thống nhất với nhau chứ không được mâu thuẫn với nhau.
Trên thực tế tính hệ thống này được bảo đảm hay không còn tùy thuộc vào điều kiện, tình hình thực tế của từng quốc gia khác nhau, ở mỗi nhà nước khác nhau với mỗi trình độ lập pháp, với điều kiện kinh tế xã hội khác nhau thì khác nhau. Có thể không đạt được tính hệ thống một cách đầy đủ.
Ví dụ: Ở Việt nam trước đây một vài thời gian có quy định là muốn đăng ký hộ khẩu Hà Nội phải có sổ đỏ Hà Nội, muốn có sổ đỏ Hà Nội phải có hộ khẩu Hà Nội. Sẽ xuất hiện mâu thuẫn chồng chéo và không thống nhất trên thực tế.
2.4. Pháp luật có tính xác định về hình thức:
- Tính xác định về hình thức của pháp luật thể hiện ở chỗ: Nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu pháp luật được quy định rõ ràng, chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản.
Nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu pháp luật lại được thể hiện trong các hình thức xác định: tiền lệ pháp, tập quán pháp, văn bản quy phạm pháp luật. Các hình thức xác định đó là các văn bản pháp luật có tên gọi được quy định chặt chẽ. Tên gọi của các văn bản pháp luật như Hiến pháp, bộ luật, đạo luật, pháp lệnh, nghị định....
- Là dấu hiệu để nhận biết pháp luật như là một hiện tượng khách quan
- Là cơ sở để phân biệt pháp luật với đạo đức, phong tục tập quán
- Giúp ta thấy được tính ưu việt của pháp luật so với các loại công cụ khác.
3. Kết hợp giữa nhiều công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội với pháp luật
- Pháp luật không phải vạn năng điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội, cần kết hợp các công cụ khác, sẽ bổ sung và lấp vào khoảng trống mà pháp luật chưa vươn tới được. Có những quan hệ xã hội được thiết lập trên cơ sở tình cảm của con người không điều chỉnh được. Chủ thể còn tham gia với tư cách khác nhau trong nhiều quan hệ xã hội.Nếu kết hợp giữa nhiều công cụ điều chỉnh sẽ phát huy được nhiều ưu điểm, hạn chế được nhược điểm.
4. Ý nghĩa của sự vận động và phát triển của quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh:
Việc pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội sẽ làm cho quan hệ xã hội được điều chỉnh một cách hiệu quả nhất. Các bên tham gia quan hệ xã hội đc pháp luật điều chỉnh phải cư xử theo những cách thức mà pháp luật đã xác định (quyền và nghĩa vụ pháp lý).
Quan hệ xã hội phát triển, định hướng quan hệ pháp luật theo ý chí của nhà nước. Được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước, khi thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý thì được sự bảo vệ của nhà nước, mang tính bắt buộc chung do đó sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và triệt để.
5. Tính chủ quan và tính khách quan của pháp luật.
- Tính chủ quan:
+ Lý do: Pháp luật do nhà nước ban hành, mang theo ý chí của chủ thế tạo ra nó (hình thức, nội dung)
+ Biểu hiện: đặt ra các quy định để phát triển các mặt của đời sống
Nội dung, hình thức chi phối bởi người tạo ra nó
- Tính khách quan:
+ Biểu hiện: pháp luật đảm bảo sự ổn định, phát triển của xã hội (đề xuất tăng lương cho công nhân, viên chức)
Pháp luật ban hành ra phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, phản ánh điều kiện thực tiễn. Khi đời sống xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải thay đổi theo, đảm bảo phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của xã hội. ví dụ: Covid-19
+ Lý do: pháp luật xuất phát từ đời sống, xã hội có nhu cầu điều chỉnh. Mang trong mình ý chí của các giai tầng trong xã hội.