1. Quyền có họ, tên của cá nhân.

Quyền có họ, tên là quyền nhân thân quan trọng đối với mỗi cá nhân, có từ thời điểm cá nhân được sinh ra. Họ và tên là những yếu tố nhân thân cá biệt hóa cá nhân, được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó. Suốt cuộc đời của mỗi cá nhân đều cần có họ, tên; đây là yếu tố định danh cá nhân, phân biệt cá nhân này với cá nhân khác. Thông qua họ và tên của một cá nhân mà có thể xác định được nguồn gốc, dân tộc và giới tính của cá nhân.

Họ là một phần trong tên gọi đầy đủ của một người để chỉ ra rằng người đó thuộc dòng họ nào. Phần lớn các họ phổ biến ở Việt Nam gắn liền với các triều đại phong kiến. Họ phổ biến nhất của người Việt (tức người Kinh) cũng như của toàn bộ người Việt Nam là họ Nguyễn, theo một thống kê thì họ này chiếm tới khoảng 38% dân số Việt Nam. Đây là họ của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng, triều nhà Nguyễn. Các họ phổ biến khác như họ Trần, Lê, Lý cũng là họ của các hoàng tộc từng cai trị Việt Nam, đó là nhà Trần, nhà Tiền Lê - Hậu Lê và nhà Lý. Ngoài ra, còn một số họ phổ biến khác như: Phí; Đào; Đoàn; Vương; Trịnh; Trương; Đinh; Lâm; Phùng; Mai; Tô; Hà; Tạ...

Tên được dùng để nhận dạng, xác định một con người nhất định. Tên được chia thành hai loại gồm tên chính và tên đệm.

- Tên đệm là yếu tố xen giữa họ và tên chính, đây là thành tố phụ có thể xuất hiện hoặc vắng mặt. Tên đệm thường có chức năng xác định giới tính. Ví dụ: Nữ thì thường lấy tên đệm là “Thị”; còn nam thì thường lấy tên đệm là “Văn”;

- Tên chính là tên gọi của từng cá nhân, để phân biệt với các cá nhân khác. Tên chính đứng ở vị trí cuối cùng trong cụm họ - tên.

Họ, tên gọi của một cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quản lý hộ tịch, góp phần nhận diện một cá nhân cụ thể, khẳng định sự tham gia của một cá nhân trong quan hệ dân sự nhất định.

2. Xác định họ của cá nhân.

Theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự 2015:

Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Như vậy, trong trường hợp xác định được cha mẹ thì họ của cá nhân sẽ là họ của cha hoặc họ của mẹ theo thỏa thuận giữa cha mẹ. Nếu cha mẹ không thỏa thuận được thì xác định theo tập quán.

>> Xem thêm:  Thủ tục và hồ sơ đổi tên trong giấy khai sinh? Điều kiện để được thay đổi tên trên giấy khai sinh?

Trường hợp không xác định được cha thì cá nhân sẽ theo họ mẹ.

Nếu trẻ bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ, được nhận làm con nuôi thì họ sẽ được xác định theo họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ sẽ theo họ của người đó.

Nếu trẻ bị bỏ rơi, không có người nhận nuôi thì họ của trẻ sẽ được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Việc xác định cha đẻ, mẹ đẻ dựa vào sự kiện sinh đẻ. Đối với trường hợp mang thai hộ thì cha mẹ của trẻ được xác định như sau:

Điều 94. Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Luật hôn nhân và gia đình 2014)

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.

3. Quy định chung về tên của cá nhân.

Khoản 3 Điều 20 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

Khi đặt tên thì tên của cá nhân phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Thứ hai, không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS năm 2015. Cụ thể đó là:

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Thứ ba, phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Việc đặt tên bằng tiếng người ngoài là không được phép, ví dụ như đặt tên bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, Tiếng Hàn... Thực trạng hiện nay, có rất nhiều cha mẹ Việt muốn đặt tên tiếng anh cho con như: Đặng Larry Hưng, Lê Mai Kate...Tuy nhiên, theo quy định này thì những tên không phải tiếng Việt thì không được chấp nhận.

>> Xem thêm:  Đăng ký việc thay đổi họ, tên là gì ? Quy định mới nhất về đăng ký việc thay đổi họ tên ?

Thứ tư, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ. Ví dụ các tên sau đây sẽ không được phép: 1, 2, 3, 4,... hay ?, !....

4. Bí danh, bút danh của cá nhân.

Ngoài họ và tên thì cá nhân có thể có bí danh, bút danh. Các nhà văn, nhà thơ thường có bút danh. Ví dụ: Trần Hữu Tri sử dụng bút danh là Nam Cao; nhà thơ Nguyễn Trọng Trí lấy bút danh là Hàn Mặc Tử. Hay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có rất nhiều tên gọi, bí danh hay bút danh khác nhau trong suốt cuộc đồi mình. Mỗi tên gọi, bí danh hay bút danh của Người đều có một ý nghĩa riêng, phục vụ lợi ích cách mạng; phần nào cũng đã phản ánh nhân cách, tư tưởng lớn lao của Người về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Được sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh và Báo Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu 175 tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ.

Một biệt hiệu hay bí danh là một tên gọi mà một người hoặc một nhóm sử dụng cho một mục đích cụ thể, có thể khác với tên gốc hoặc tên thật của họ. ... Về mặt lịch sử, chúng thường có dạng đảo chữ, Graecism, và Latin hóa, mặc dù có nhiều phương pháp khác để chọn một biệt hiệu.

Bút danh là tên của một tác giả do chính họ đặt thay cho tên thật, thường được dùng trong mỗi tác phẩm của tác giả. Bút danh có thể được sử dụng với nhiều mục đích như để ngụy trang giới tính tác giả, để cách xa với vài tác phẩm trước đây của họ, bảo vệ tác giả khỏi những lời đánh giá tiêu cực cho tác phẩm của họ thay cho tên thật, hoặc kết hợp hai tác giả hợp tác với nhau để dùng cùng một bút danh, hay bất kỳ lý do nào trong việc tiếp thị và trình bày tác phẩm.

Nhưng việc sử dụng bí danh, bút danh thì không được gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Đăng ký họ, tên của cá nhân.

Luật hộ tịch 2014 đã quy định cụ thể các việc về hộ tịch và đăng ký hộ tịch. Theo đó:

"đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư" (khoản 2 Điều 2 Luật hộ tịch).

Nội dung đăng ký hộ tịch Theo Điều 3 Luật hộ tịch bao gồm:

- Xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch (khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử).

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký khai sinh cho con khi bố mẹ chưa đăng ký kết hôn ? Thủ tục khai sinh cho trẻ em ?

- Ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự).

- Ghi vào sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Xác nhận hoặc ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tích khác theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 6 Điều 4 Luật hộ tịch quy định Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hộ tịch (thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch. Các thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh; số định danh của người được đăng ký khai sinh....).

Như vậy, Họ và Tên của cá nhân sẽ được xác định kể từ thời điểm đi đăng ký khai sinh.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề quyền có họ, tên của cá nhân. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền xác định dân tộc của cá nhân?

Trả lời:

Điều 29 Bộ luật dân sự 2015:

1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.

2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

....

Câu hỏi: Cá nhân được xác định lại dân tộc trong trường hợp nào?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 29 Bộ luật dân sự:

Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:

a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

Câu hỏi: Quyền được khai sinh, khai tử của cá nhân?

Trả lời:

Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử (Bộ luật dân sự 2015)

1. Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh.

2. Cá nhân chết phải được khai tử.

3. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.

4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.