1. Phong trào không liên kết là gì ?

Phong trào Không Liên kết trong tiếng Anh là Non-Aligned Movement, viết tắt là NAM.

Phong trào không liên kết là một tập hợp bao gồm các quốc gia tự xem là không liên kết với hay chống lại khối xã hội chủ nghĩa lẫn khối tư bản chủ nghĩa trong Chiến tranh Lạnh.

Những nhà lãnh đạo được coi là đồng sáng lập Phong trào không liên kết bao gồm Thủ tướng Jawaharlal Nehru của Ấn Độ, Tổng thống Ai Cập Gamal Abdul Nasser, Thống chế Josip Broz Tito của Nam Tư, Tổng thống Sukarno của Indonesia, và Tổng thống Kwame Nkrumah của Ghana.

 

2. Sự ra đời của phòng trào không liên kết

Mặc dù hết sức đa dạng về văn hoá tín ngưỡng, về chế độ chính trị- xã hội, về lợi ích dân tộc, nhưng các nước không liên kết có nhiều đặc điểm giống nhau: đều đã bị thực dân đô hộ, kinh tế kém phát triển, cùng chung nguyện vọng muốn có hoà bình ổn định để xây dựng đất nước, thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, Đó là cơ sở khách quan để phong trào có thể trở thành một tập hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết gắn bó trong một cương lĩnh hành động tối thiểu.

Tháng 3/1947, Thủ tướng Nehru triệu tập tại New Delhi hội nghị Đại biểu các tổ chức và đoàn thể quần chúng, về sau được gọi là Hội nghị về quan hệ châu Á lần thứ nhất.

Tháng 1/1949, theo đề nghị của Miến Điện, Thủ tướng Nehru tổ chức Hội nghị Châu Á lần thứ hai tại New Delhi.

Tháng 4/1954, Thủ tướng 5 nước Ấn Độ, Mianmar, Indonesia, Pakistan và Xri Lanca họp tại Colombo để thảo luận các vấn đề quan tâm chung như: chống thực dân và phân biệt chủng tộc, chiến tranh lạnh, vấn đề thử vũ khí hạt nhân và hợp tác kinh tế. Tại đây Thủ tướng Nehru tuyên bố rằng đa số các nước tham dự Hội nghị theo đuổi chính sách đối ngoại không liên kết (KLK). theo đề nghị của Indonesia, 5 nước này quyết định sẽ triệu tập một Hội nghị các quốc gia độc lập Châu Á và Châu Phi trong năm 1955. Sau đó 5 nước lại gặp nhau tại Bogor (12/1954) và quyết định Hội nghị Á, Phi sẽ họp tại thành phố Bandung của Indonesia từ 18 đến 24/4/1955.

Từ cuối năm 1954 đến tháng 4/1955 đã diễn ra một loạt cuộc tiếp xúc ngoại giao quan trọng của Thủ tướng Nehru (Ấn Độ) với Tổng thống Nasser (Ai Cập), Tổng thống Tito (Nam Tư), đặc biệt với Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc).

Tham dự Hội nghị Bandung 1955 gồm các chính phủ của 29 nước Á-Phi, trong đó có 23 nước Châu Á (Afghanistan, Miến Điện, ấn Độ, Indonesia, Goócdani, Iran, Irắc, Yemen, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Xiri, Libăng, Nepal, Pakistan, A rập Xê-út, Thổ Nhĩ Kỳ, Xri Lanca, Philippin, Thái Lan, Nhật, Việt Nam dân chủ Cộng hoà và 6 nước Châu Phi (Ai Cập, Ghana, Ethiopia, Liberia, Libya và Sudan). Ghana tham dự Hội nghị trước khi được chính thức trao trả độc lập, Síp và Palextin tham dự với tư cách quan sát viên. Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Những đề tài chính được thảo luận tại Bandung là hoà bình thế giới, an ninh của các nước Á-Phi, cùng tồn tại hoà bình và láng giềng thân thiện, giải phóng các dân tộc Á-Phi khỏi ách thống trị thực dân và phân biệt chủng tộc... Trong quá trình Hội nghị đã nảy sinh bất đồng quan điểm gay gắt giữa các nước tán thành chính sách KLK và những nước tham gia các khối quân sự, có nguy cơ làm Hội nghị tan vỡ.

Tháng 4/1961 các Tổng thống Ai Cập, Nam Tư và Indonesia gửi thư chung cho nguyên thủ 21 nước đề nghị tổ chức một hội nghị các nước KLK. Ngày 18/5/61 các Tổng thống Naser, Tito, Sukarno gửi thư chính thức mời những nước đó dự Hội nghị trù bị tại Cairo.

Hội nghị trù bị tại Cairo từ ngày 5 đến 12/6/1961 để chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao của các nước KLK tại Nam Tư vào tháng 9/1961, đã bàn về vai trò và chính sách của phong trào KLK trong tương lai. Những nước tham dự Hội nghị trù bị Cairo cho rằng cần biến khu vực các nước không cam kết... thành một nhân tố cơ bản gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế, khẳng định sự trung thành đối với chính sách không cam kết như là một biện pháp xử lý tích cực các vần đề mà thế giới đang gặp phải (về từ ngữ, cụm từ không liên kết chỉ được sử dụng chính thức từ Hội nghị cấp cao Belgrade, Trước đó, Hội nghị trù bị Cairo dùng cụm từ không cam kết). Một đóng góp rất quan trong của Hội nghị trù bị Cairo là việc soạn thảo 5 tiêu chuẩn thành viên của Phong trào được Hội nghị cấp cao Belgrade thông qua và có hiệu lực cho đến ngày nay.

Hội nghị các vị đứng đầu nhà nước và chính phủ các nước KLK tại Nam Tư vào đầu tháng 9/1961 đã chính thức khai sinh ra Phong trào không liên kết.

 

3. Nội dung của phong trào không liên kết

Mặc dù cho đến năm 1961 Phong trào mới chính thức được thành lập ở Belgrade (Nam Tư cũ) nhưng nguồn gốc của Phong trào xuất phát từ Hội nghị thượng đỉnh Á Phi tổ chức ở Bandung, Indonesia vào tháng 04 năm 1955.

Dưới sự dẫn dắt của thủ tướng Ấn Độ Nehru, người tin rằng các quốc gia châu Á và châu Phi nên xây dựng liên minh đoàn kết chống lại chủ nghĩa đế quốc mới, các nhà lãnh đạo của 29 nước đã gặp nhau ở Hội nghị Á-Phi, tuyên bố áp dụng chính sách trung lập và thúc đẩy phong trào phi thực dân hóa.

Ở hội nghị này, các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba cũng chia sẻ những vấn đề chung khác như chống lại sức ép của các quốc gia lớn, duy trì độc lập, chống lại chủ nghĩa thực dân và thực dân mới, đặc biệt là sự thống trị của phương Tây.

Năm nguyên tắc chung sống hòa bình được coi là nền tảng của Phong trào không liên kết bao gồm:

(1) tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;

(2) không xâm lược lẫn nhau;

(3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

(4) bình đẳng và cùng có lợi;

(5) cùng tồn tại hòa bình.

Mục tiêu của Phong trào được ghi rõ trong Tuyên bố Havana 1979, bao gồm việc bảo đảm "độc lập và chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia không liên kết" trong "cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và tất cả hình thức xâm lược, chiếm đóng, thống trị, can thiệp hay bá quyền nước ngoài."

Tính trung lập của các quốc gia không liên kết có thể tạo cho họ sức ảnh hưởng về mặt ngoại giao trong Chiến tranh Lạnh khi họ có thể đóng vai trò hòa giải giữa các cường quốc và đóng góp trực tiếp cho mục đích hòa bình.

Hiện nay, Phong trào không chỉ tập trung vào những tôn chỉ hoạt động ban đầu mà còn hướng đến việc tái cấu trúc trật tự kinh tế quốc tế, và tập trung vào các thách thức kinh tế xã hội đối với các quốc gia thành viên, đặc biệt là sự bất bình đẳng trong thời kỳ toàn cầu hóa. Phong trào không liên kết cũng xác định kinh tế kém phát triển, nghèo đói, và mất công bằng xã hội là những mối đe dọa ngày càng tăng đối với hòa bình và an ninh thế giới ngày nay.

 

4. Cơ cấu tổ chức của phong trào không liên kết

Phong trào này không có trụ sở hay cơ chế thường trực (Uỷ ban Phối hợp hoạt động theo cơ chế ad-hoc tại LHQ)

Phong trào Không liên kết là một loại thể chế quốc tế đặc biệt, là một hiện tượng mới trong luật pháp quốc tế. Nó không phải đơn thuần là một Hội nghị hoặc Diễn đàn Liên chính phủ họp định kỳ, mà cũng không phải là một tổ chức của các nước do một điều ứơc quốc tế lập ra, có điều lệ rõ ràng và được thể chế hoá chặt chẽ. Mức độ thể chế hoá của Phong trào tương đối lỏng lẻo và thể hiện chủ yếu ở tập quán và lề lối hoạt động.

Qua thực tiễn hoạt động, đã hình thành một hệ thống tổ chức gồm 3 cấp:

- Hội nghị cấp cao các vị đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ các nước KLK, thông thường 3 năm họp một lần. Nguyên thủ của nước đăng cai Hội nghị cấp cao trở thành Chủ tịch đương nhiệm và là người phát ngôn của Phong trào.

- Giữa hai kỳ Hội nghị cấp cao, có hội nghị toàn thể các Bộ trưởng Ngoại giao.

- Cơ quan thường trực của Phong trào là Uỷ ban phối hợp, thường xuyên hoạt động ở cấp đại sứ - đại diện các nước KLK bên cạnh Liên hợp quốc tại New York. Uỷ ban phối hợp có thể họp cấp Bộ trưởng khi cần.

 

5. Đặc thù của Phong trào Không Liên Kết

Phong trào Không liên kết áp dụng các thủ tục hiện hành của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, có khác Liên hợp quốc về một điểm cơ bản, đó là thông qua quyết định bằng "nhất trí" (consensus), không phải bằng bỏ phiếu. "Consensus" có nghĩa là sự "nhất trí áp đảo", chứ không phải là "nhất trí tuyệt đối", đi đôi với quyền "bảo lưu" ý kiến của nước nào không tán thành "nhất trí", là sự thể hiện tinh thần dân chủ và tính mềm dẻo trong quá trình thông qua quyết định.

- Lần đầu tiên khái niệm consensus được thảo luận trực tiếp ở Hội nghị Kabul (5/1973) của Uỷ ban trù bị cho HNCC lần thứ 4 (Alger 5-9/9/1973) với nhiều quan điểm khác nhau. Chủ tịch Hội nghị đúc kết các ý kiến trong một tuyên bố giải thích khái niệm consensus như sau và đã được Phong trào chấp nhận rộng rãi:

- "Trong mươì hai năm qua kể từ Hội nghị lần thứ nhất của các nước KLK, từ thực tiễn đã rút ra được ý kiến tổng hợp và làm cân đối quan điểm của các nước về những vấn đề quan trọng, và thông qua các quyết định bằng consensus - "nhất trí" . Từ ngữ này có nét đặc thù phần nào khó định nghĩa, khó diễn đạt bằng lời nói, nhưng tất cả chúng ta có bản năng để hiểu nó nghĩa là gì. Nó đòi hỏi sự thông cảm và tôn trọng các quan điểm khác nhau kể cả những quan điểm bất đồng, và hàm chứa sự nhân nhượng lẫn nhau, tạo cơ sở cho một quá trình thích nghi lẫn nhau giữa các nước thành viên theo tinh thần thực sự không liên kết. Nói cách khác, consensus đơn giản có nghĩa là sự hội tụ của các quan điểm ("convergence of views").

- Nguồn gốc của phương thức consensus xuất phát chủ yếu từ tính đa dạng về thành viên của Phong trào KLK. Tính đa dạng này đã được Hội nghị Kabul (5/1973) giải thích như sau: "Phong trào KLK bao gồm nhiều nước thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới, với nhiều đặc thù về chủng tộc và văn hoá, chế độ chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó của các nước KLK, có sự thống nhất cơ bản về mục đích. Sự thống nhất trong đa dạng là bản chất của sức mạnh và sức sống của Phong trào."

Từ đó về sau, từ ngữ "thống nhất trong đa dạng" được thường xuyên nhắc đến như một châm ngôn của Phong trào KLK. Trong quá trình thông qua các quyết định của Phong trào, sự "thống nhất trong đa dạng" ở đây còn được hiểu là consensus đi đôi với quyền được bảo lưu ý kiến.

- Việc bảo lưu: Mặc dù tại Kabul có sự giải thích như trên về khái niệm consensus, nhưng việc áp dụng trong thực tế đối với từng vấn đề cụ thể không phải là đơn giản mà còn tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng bên trong Hội nghị và xu thế chung lúc đó. Khái niệm "bảo lưu", tức là cho phép những nước có ý kiến khác với kết luận của chủ tịch cuộc họp có quyền bảo lưu quan điểm của mình bằng cách phát biểu tại hội nghị hoặc bằng văn bản gửi cho Chủ tịch Hội nghị.

- Tại Hội Nghị Cấp Cao 7 New Delhi (7-12/3/1983), "Quyết định về biện pháp tăng cường thống nhất, đoàn kết và hợp tác giữa các nước đang phát triển" đã quy định cụ thể thêm về lề lối làm việc của Uỷ ban phối hợp và thể thức thông qua các quyết định bằng consensus. Hội nghị cho rằng: việc thông qua các quyết định bằng "nhất trí" đã trở thành thông lệ của Phong trào, mặc dù còn một số khó khăn trong việc sử dụng phương thức consensus. Phong trào khẳng định thêm: "Nhất trí vừa là quá trình vừa là bản thân công thức thoả hiệp cuối cùng được hình thành sau những cuộc tham khảo, thảo luận và đàm phán để đi đến một lập trường nói chung được chấp nhận. Nói cách khác, consensus là sự hội tụ và hài hoà các quan điểm thể hiện sự đồng ý rộng rãi nhất của Hội nghị nhằm tăng thêm hoặc chí ít duy trì sự thống nhất và sức mạnh của phong trào".

Thực tế từ ngày Phong trào mới ra đời cho đến nay chứng minh rằng đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, đảm bảo đoàn kết nội bộ và phù hợp tính chất đa dạng của Phong trào. Mặc dù có người chỉ trích phương pháp thông qua các quyết định bằng "nhất trí", đòi thay thế bằng phương pháp bỏ phiếu, nhưng nguyện vọng chung của tuyệt đại đa số các nước thành viên là cần duy trì phương pháp "nhất trí" vì nó là đặc thù của Phong trào Không Liên Kết.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)