1. Phục hồi môi trường là gì?

Phục hồi môi trường là Khôi phục lại tình trạng môi trường như trước khi chúng bị tổn hại hoặc đến mức có thể chấp nhận được.

Phục hổi môi trường còn được sử dụng với nghĩa làm sạch lại môi trường, hay khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm...

Phục hồi môi trường là trách nhiệm của cơ quan quản lí môi trường (trong trường hợp môi trường bị ô nhiễm, suy thoái bởi các yếu tố khách quan như thiên tai, lũ lụt...), đồng thời là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường.

2. Biện pháp Khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; phồng ngừa, ứng phó, khắc phục và xử lí sự cố môi trường

Khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường môi trường là một ttong những hình thức pháp lí của kiểm soát ô nhiễm môi trường nhằm ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường gây nên, đồng thời nhanh chóng tìm ra các giải pháp khôi phục lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm.

Khắc phục ô nhiễm môi trường là hoạt động giảm thiểu tác động của ô nhiễm đến môi trường, con người và nâng cao chất lượng môi trường tại khu vực môi trường bị ô nhiễm (khoản 1 Điều 105 Luật bảo vệ môi trường năm 2014).

Trách nhiệm trong khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường trước hết thuộc về các tổ chức, cá nhân. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm: Có phương án cải tạo, phục hồi môi trường khi tiến hành các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; tiến hành biện pháp khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường khi gây ô nhiễm môi trường. Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường mà không tự thỏa thuận được về trách nhiệm thì cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường (khoản 1 Điều 107 Luật bào vệ môi trường năm 2014).

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm trên địa bàn, hằng năm báo cáo Bộ tài nguyên và môi trường (khoản 2 Điều 107 Luật bảo vệ môi trường năm 2014)

Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm: Quy định tiêu chí phân loại khu vực ô nhiễm môi trường; hướng dẫn thực hiện hoạt động cải tạo, phục hồi môi trường; kiểm tra xác nhận hoàn thành khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; điều tra, đanh giá và tổ chức thực hiện các hoạt động khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đối với các khu vực bị ô nhiễm liên tỉnh. Trường hợp môi trường bị ô nhiễm do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân thì bộ, ngành và ủy ban nhân dân các cấp ttong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động nguồn lực để tổ chức khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường (khoản 3 Điều 107 Luật bảo vệ môi trường năm 2014)

Để khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường một cách nhanh chóng, kịp thời, đạt kết quả thì một trong những yêu cầu được đặt ra đầu tiên là phải tiến hành xác định (khoanh vùng) khu vực môi trường bị ô nhiễm, gồm: Xác định phạm vi, giới hạn của khu vực bị ô nhiễm; xác định móc độ ô nhiễm, đánh giá rủi ro; xác định nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan; các giải pháp xử lí ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; xác định các thiết hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu các bên gây ô nhiễm phải bồi thường (khoản 1 Điều 106 Luật bảo vệ môi trường năm 2014).

Cũng theo Luật bảo vệ môi trường năm 2014, khu vực môi trường bị ô nhiễm được phân loại theo 03 mức độ gồm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 105).

Dự án khai thác mỏ, khoáng sản phải có phương án cài tạo, phục hồi môi trường trình cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyên phê duyệt trước khi hoạt động và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Phương án cải tạo, phục hồi môi trường gồm các nội dung chủ yếu: Xác định khả năng, phạm vi và mức độ gây ô nhiễm môi trường; đánh giá rủi ro, lựa chọn phương án khả thi cải tạo, phục hồi môi trường; kế hoạch và kinh phí để cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc dự án (khoản 2 Điều 106 Luật bảo vệ môi trường năm 2014).

Tương tự như ưách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, ttách nhiệm phòng ngừa sự cố môi trường, ứng phó, khắc phục và xử lí sự cố môi trường trước hết cũng thuộc về các tổ chức, cá nhân. Cụ thể:

+ Phòng ngừa sự cố môi trường: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp: Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; Lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường; đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường; thực hiện chế độ kiểm tta thường xuyên, áp dụng biện pháp an toàn theo quy định của pháp luật; có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố môi trường khi phát hiện có dấu hiệu sự cố môi trường.

Bên cạnh đổ, bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân cấp tinh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại sự cố môi trường có thể xảy ra ttong phạm vi cả nước, từng khu vực, địa phương; xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ và ứng phó sự cố môi trường; xây dựng kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cô môi trường hằng năm và định kì 05 năm.

+ Ứng phó sự cố môi trường: Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố; sự cố môi trường xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và phương tiện để kịp thời ứng phó sự cố; sự cố môi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người đứng đầu cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm phối hợp ứng phó. Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó sự cố của cơ sở, địa phương thì người đứng đầu phải khẩn cấp báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để kịp thời huy động các cơ sở, địa phương khác tham gia ứng phó sự cố môi trường; cơ sở, địa phương được yêu cầu huy động phải thực hiện biện pháp ứng phó sự cố môi trường trong phạm vi khả năng của mình.

Việc ứng phó sự cố môi trường đậc biệt nghiêm trọng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp. Nhân lực, vật tư, phương tiện sử dụng để ứng phó sự cố môi trường được bồi hoàn và thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường gây ra được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.

+ Khắc phục sự cổ môi trường: Tổ chức, cá nhân gây sự cố môi trường có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của nhân dân trong vùng; thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường; bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan; báo cáo cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường việc ứng phó và khắc phục sự cố môi trường.

Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ra sự cố môi trường mà không tự thỏa thuận về ttách nhiệm thì cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.

Trường hợp sự cố mồi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân thì bộ, ngành và ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ chức xử lí, khắc phục ô nhiễm môi trường.

Trường hợp sự cố môi trường xảy ra trên địa bàn liên tỉnh thì việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

3. Đối tượng phải lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường.

Các đối tượng phải lập phương án cải tạo, phục hồi môi trường được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 19/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, cụ thể như sau:

- Tổ chức, cá nhân lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản;

- Tổ chức, cá nhân đang khai thác khoáng sản nhưng chưa có phương án được phê duyệt hoặc chưa ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường;

- Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đã có phương án được phê duyệt nhưng không triển khai thực hiện dự án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm được phê duyệt thì phải lập lại phương án.

4. Thủ tục thẩm định và phê duyệt Phương án cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản

a) Trình tự thực hiện:

Bước 1: Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật.

Bước 2: Nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Văn phòng Sở Tài nguyên và Môi trường Công chức tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ thì viết giấy biên nhận hẹn ngày trả kết quả; nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không hợp lệ thì hướng dẫn người nộp hoàn thiện theo quy định.

- Thời gian tiếp nhận hồ sơ: Trong giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ các ngày lễ, tết).

Bước 3: Trả kết quả cho tổ chức tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Văn phòng Sở Tài nguyên và Môi trường.

b) Cách thức thực hiện:

- Nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Văn phòng Sở Tài nguyên và Môi trường,

- Nộp hồ sơ qua đường bưu điện, nếu hồ sơ chưa hợp lệ theo quy định, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ có văn bản trả lời tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ theo quy định.

c) Thành phần, số lượng hồ sơ: 01 bộ, bao gồm:

- Hồ sơ đề nghị thẩm định Phương án cải tạo, phục hồi môi trường gồm có:

+ Một (01) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định, phê duyệt Phương án cải tạo, phục hồi môi trường (bản chính);

+ Bảy (07) bản Phương án cải tạo, phục hồi môi trường (bản chính).

+ Một (01) bản sao báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường đơn giản hoặc đề án bảo vệ môi trường chi tiết đã được phê duyệt hoặc xác nhận.

- Hồ sơ đề nghị phê duyệt Phương án cải tạo, phục hồi môi trường gồm có:

+ Một (01) văn bản giải trình cụ thể về các nội dung đã được chỉnh sửa, bổ sung theo kết luận của hội đồng thẩm định (bản chính);

+ Năm (05) bản Phương án cải tạo, phục hồi môi trường đã được chỉnh sửa theo kết luận của hội đồng thẩm định có đóng dấu giáp lai (bản chính);

+ Một (01) đĩa CD ghi toàn bộ dữ liệu.

(Điều 3, Điều 6 Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT)

d) Thời hạn giải quyết:

- Thời hạn thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường:

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do chủ dự án gửi đến, có thông báo bằng văn bản để chủ dự án bổ sung, hoàn chỉnh.

Trường hợp hồ sơ hợp lệ, không quá mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do chủ dự án gửi đến, cơ quan thường trực thẩm định có trách nhiệm thành lập hội đồng thẩm định phương án cải tạo, phục hồi môi trường. Thời hạn tiến hành các hoạt động thẩm định và thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân biết kết quả thẩm định và những yêu cầu liên quan đến việc hoàn chỉnh Phương án cải tạo, phục hồi môi trường tối đa là ba mươi lăm (35) ngày làm việc, kể từ ngày Hội đồng thẩm định được thành lập.

- Thời hạn phê duyệt phương án cải tạo, phục hồi môi trường:

Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt, cơ quan phê duyệt ban hành Quyết định phê duyệt và xác nhận vào mặt sau trang phụ bìa của phương án. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện phê duyệt thì cơ quan có thẩm quyền có ý kiến bằng văn bản nêu rõ lý do.

- Trường hợp Phương án cải tạo, phục hồi môi trường không được thông qua và phải thẩm định lại, thời gian thẩm định lại được thực hiện như quy định tại trường hợp hồ sơ Phương án cải tạo, phục hồi môi trường hợp lệ của mục này.

- Trường hợp phương án cải tạo, phục hồi môi trường được thông qua với điều kiện phải chỉnh sửa, bổ sung. Thời hạn chỉnh sửa, bổ sung không quá sáu (06) tháng kể từ ngày ban hành văn bản thông báo kết quả thẩm định. Quá thời hạn chỉnh sửa, bổ sung hồ sơ, tổ chức, cá nhân phải lập lại phương án.

Luật Minh Khuê (biên tập)