1. Tự do hóa thương mại là gì?

Thương mại tự do (free trade) là nền thương mại quốc tế trong đó các hoạt động thương mại diễn ra mà không vấp phải bất kỳ hàng rào cản trở nào như thuế quan, hạn ngạch hoặc các biện pháp kiểm soát hối đoái được đặt ra để cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nước. Mục đích của tự do hóa thương mại là tận dụng các mối lợi của chuyên môn hóa quốc tế. Tổ chức thương mại thế giới WTO) và tiền thân của nó là GATT, cũng như nhiều hiệp định khu vực khác như khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung cũng tìm cách thúc đẩy tự do thương mại với tư cách mục tiêu chính sách của cộng đồng quốc tế.

- Chính sách thương mại tự do thường thúc đẩy các điểm sau:

+ Buôn bán hàng hóa không có thuế (bao gồm thuế hải quan) hoặc các rào cản thương mại khác (ví dụ: hạn ngạch nhập khẩu hoặc trợ cấp cho nhà sản xuất)

+ Kinh doanh dịch vụ không có thuế hoặc các rào cản thương mại khác

+ Sự vắng mặt của các chính sách "bóp méo thương mại" (chẳng hạn như thuế, trợ cấp, quy định hoặc luật) cung cấp cho một số doanh nghiệp, hộ gia đình hoặc yếu tố sản xuất một lợi thế so với các doanh nghiệp khác

+ Khả năng gia nhập thị trường không bị kiểm soát

+ Khả năng truy cập thông tin thị trường một cách tự do

+ Không có các công ty có khả năng làm biến dạng thị trường thông qua sức mạnh độc quyền nhóm hoặc độc quyền do chính phủ áp đặt

+ Các hiệp định thương mại khuyến khích giao dịch tự do.

2. Tiến trình tự do hóa thương mại trên thế giới thời hiện đại

Trong những thập niên gần đây, thuật ngữ này đã trở thành phổ biến trên thế giới và tự do hóa thương mại là một chính sách được nhiều nước chấp nhận, với mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện từng nước. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, các nước tư bản thực hiện chính sách tự do hóa thương mại (thực chất là tự do hóa ngoại thương), đồng thời cũng thực hiện bảo hộ mậu dịch, với mức độ khác nhau, nhằm một mục tiêu chung là bảo đảm và phục vụ lợi ích của quốc gia đó.

Vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ XX với sự xuất hiện của các tổ chức tư bản lũng đoạn quốc tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tổ chức này, các nước tư bản lại chuyển từ chính sách tự do hóa thương mại sang chính sách bảo hộ mậu dịch mang tính chất áp đặt (điều mà V.I. Lê-nin gọi là chính sách mậu dịch “siêu bảo hộ”). Đặc trưng của chính sách “siêu bảo hộ” là sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào hoạt động ngoại thương, vào thương mại quốc tế thông qua một hệ thống biện pháp hạn chế nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế quốc gia mở rộng thương mại ra nước ngoài. Chính sách bảo hộ mậu dịch từ chỗ có tính bảo vệ đã chuyển sang chính sách bảo hộ mậu dịch có tính cực đoan.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự hình thành của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, sự tan rã của hệ thống thuộc địa, với xu hướng mở rộng chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế, các nước tư bản phát triển lại chuyển từ chính sách mậu dịch “siêu bảo hộ ” sang chính sách tự do hóa thương mại (chủ yếu giữa các nước trong các khối liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực), có sự kết hợp với chính sách bảo hộ mậu dịch “có điều kiện” (còn gọi là “bảo hộ mậu dịch ôn hòa”).

Trên thế giới đã hình thành nhiều khối liên kết khu vực và liên khu vực ở các châu lục, trong đó tiêu biểu là: 1- Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) hay khối thị trường chung, thành lập năm 1957 - một liên minh kinh tế hùng mạnh với 12 thành viên sáng lập, chiếm 20,9% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của thế giới; 2- Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), thành lập năm 1959, gồm 6 nước công nghiệp phát triển Bắc và Trung Âu; 3- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ban đầu gồm 5 thành viên và nay mở rộng gồm 10 thành viên. Tháng 11-2001, các nhà lãnh đạo của ASEAN và Trung Quốc đã thành lập khu vực mậu dịch tự do (gọi tắt là ACFTA). Ngày 31-12-2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) được thành lập; 4- Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thành lập năm 1992, bao gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô. Gần đây, sau 14 tháng đàm phán, Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô đã đạt đồng thuận về một hiệp định tự do mậu dịch Bắc Mỹ mới - Hiệp định Mỹ - Mê-hi-cô - Ca-na-đa (USMCA) thay thế cho NAFTA vào cuối năm 2018; 5- Hiệp định thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA) là một khu vực thương mại tự do bao gồm 54 trong số 55 quốc gia thuộc Liên minh châu Phi. Đây là khu vực thương mại tự do lớn nhất trên thế giới về số lượng các quốc gia tham gia, nhằm mục đích gắn kết 1,3 tỷ người, tạo ra một khối kinh tế 3,4 nghìn tỷ USD.

3. Quan điểm về nền tự do thương mại thời kỳ phong kiến Quân chủ

Thương mại chữa lành được các định kiến có tính phá hoại. Hầu như có một quy luật chung là ở đâu có phong tục thuần dịu thì ở đó có thương mại, và ở đâu có thương mại thì ở đó có thuần phong mỹ tục.

Không lạ gì phong tục của ta bây giờ ít hung dữ hơn ngày xưa. Thương mại đã làm cho người ta hiểu biết về phong tục các nước và so sánh với nhau. Đó là điều rất hay.

Có thể nói rằng các luật thương mại trau dồi cho phong tục tốt lên và làm mất đi những phong tục xấu. Platon (nhà triết học người Athen trong thời kỳ Cổ điển ở Hy Lạp cổ đại) than phiền rằng thương mại làm đồi bại các thuần phong mỹ tục. Thật ra thương mại đã làm cho phong tục các dân tộc dã man trở nên tinh tế và thuần hơn. Đó là điều ta thấy hàng ngày.

Tác dụng tự nhiên của thương mại là đưa tói hoà bình. Hai nước đang buôn bán sẽ trở thành phụ thuộc lẫn nhau: Nếu bên này mua có lợi thì bên kia bán cũng có lợi, và mọi khối liên kết đều dựa trên những nhu cầu "có người có ta".

Nhưng nếu thương mại liên kết được các nước thì nó không liên kết được các cá nhân đâu. Chúng ta thấy rằng ở các nước chụyên về thương mại người ta buôn bán tất cả mọi chuyện trên đời, buôn bán cả đức tính con người nữa. Những cái nhỏ nhất mà xã hội người cần đến đều có thể đem đổi lấy đồng tiền.

Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức về công bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về mình mà sao nhãng lợi ích người khác.

Nơi nào hoàn toàn không có thương mại thì sinh ra cướp bóc. Theo Aristote (một nhà triết học và bác học thời Hy Lạp) cưỡng bức cũng là một trong những biện pháp để thu hoạch. Tinh thần thương mại đôi khi trái với một vài đức tính tốt. Ví dụ: Tính hiếu khách ít thấy ở các dân tộc thương mại nhưng lại thường thấy ở các dân tộc cướp bóc.

4. Các dân tộc đặt nền móng cho tự do thương mại trên thế giới

Marseille (một thành phố cảng của nước Pháp) là nơi ẩn náu cẩn thiết giữa một vùng biển bão tố. Marseille, nơi mà gió, bãi cát, bờ biển đều thuận lợi cho thuyền cập bến, vốn đã được các người đi biển qua lại luôn. Đất đai cằn cỗi đã buộc dân địa phương này làm nghề buôn bán kinh tế. Họ phải chăm chỉ làm ăn để bù vào chỗ thiên nhiên bạc đãi họ. Họ phải công bằng để sống được giữa những dân tộc man rợ đã làm cho họ được thịnh vượng. Họ phải chừng mực để cho việc cai trị luôn luôn được yên ổn. Cuối cùng họ phải có những phong tục và nếp sống thanh đạm để nếu gặp lúc buôn bán thua lỗ vẫn có thể duy trì thương mại.

ở đâu có bạo lực và phiền hà thì ở đó nảy sinh ra thương mại kinh tế, khi con người phải lẩn tránh vào các đầm lầy, ra hải đảo, xuống đáy biển hay các vùng có mỏm đá ngầm. Chính vì thế mà vùng đất Venise (Thuộc Italia) và các thành phố Hà Lan được thiết lập. Những người trốh tránh tìm thấy an ninh ở các nơi này. Họ phải sống. Họ kiếm đồ nuôi sống mình từ khắp nơi trên thế giới.

Nước Anh không có mức thuế được thương lượng với các nước. Mức thuế của họ thay đổi có thể nói là tuỳ ở mỗi viện, có quyền định mức thuế hay miễn thuế. Nước Anh giữ cái đó là để giữ quyền độc lập của mình. Cạnh tranh một cách đế vương với các nước về thương mại, nước Anh ít chịu ràng buộc bởi các hiệp định, và chỉ phụ thuộc vào luật của họ.

Một số nước khác đặt lợi ích thương mại dưới lợi ích chính trị; nước Anh thì luôn đặt lọi ích chính trị dưới lợi ích thương mại.

Đây là một dân tộc trên địa cầu biết dành ưu thế trên ba lĩnh vực lớn: Tộn giáo, thương mại và tự do.

5. Các yếu tố cản trở tự do thương mại

Ở đâu có thương mại, ở đó có thuế quan. Mục đích của thương mại là xuất và nhập cảng những hàng hoá có lợi cho Nhà nước. Mục dích của quan thuế là giữ một số quyền trong việc xuất nhập cảng củng để làm lợi cho Nhà nước. Vậy thì Nhà nước phải trung lập giữa thương mại và thuế quan, khiến cho hai phía này không chồng chéo nhau. Có như vậy mới hưởng được cái lợi của tự do thương mại.

Ngành tài chính phá hoại thương mại bằng cách làm bất công, nhũng nhiễu, thu thuế quá mức. Nó còn phá hoại thương mại bằng những thể lệ phiền hà, thủ tục rắc rối.

Ở Anh quan thuế được quản lý khiến cho việc thương lượng buôn bán được dễ dàng. Một chữ viết làm nên đại sự; người nhà buôn không phải mất thời gian liên miên, cỏ những nhân viên kiểm tra để chấm dứt những khó khăn do người thu thuế gây ra, hoặc- buộc người thu thuế phải nghiêm lệ làm nhiệm vụ, không được dễ dãi quá.

Khi người Bồ Đào Nha và người Castille (là một trong những vương quốc thời Trung cổ trên bán đảo Iberia) thống trị vùng Tây Ấn Độ, có những ngành thương mại béo bở đến nỗi các công hầu đều muốn nắm lấy. Điều này đã làm cho mấy xí nghiệp của nhà buôn bị phá sản. Phó vương vùng Goa (là một tiểu bang của Ấn Độ) cho phép tay chân mình được hưởng đặc quyền quá đáng. Dân không tin tưởng gì ở bọn này. Việc buôn bán bị gián đoạn vì người quản lý cứ thay đổi xoành xoạch, không ai lo toan chu đáo việc buôn bán, và họ chẳng sợ mất mát cho người sau. Tiền lãi vào tay tư nhân mà thương mại quốc gia chẳng

Chính sách tự do hóa thương mại có nguồn gốc từ nước Anh, tự do thương mại được hệ thống thông luật (common law) thừa nhận khá lâu trước khi chính sách này được áp dụng ở các quốc gia khác. Trên thực tế và về mặt pháp luật, ở các nước có nền kinh tế thị trường, tự do thương mại là một chính sách đồng thời cũng là quyền của công dân.

Quan điểm người đứng đầu quốc gia không nên buôn bán: Theophilos (Hoàng đế Đông La Mã từ năm 829 cho đến khi ông qua đời năm 842) trông thấy con tàu có các hàng hoá của vợ ông là Theodora, liền hạ lệnh đốt tàu này. Ông nói: "Ta là vua mà các người biến ta thành ông chủ kho hàng ư. Người nghèo lấy gì ăn nếu chúng ta tranh mất nghề của họ?". Và ông nói thêm: "Ta đã là vua thì ai có thể phạt ta, nếu ta làm hãng độc quyền? Ai sẽ buộc ta thực hiện các hợp đồng? Ta buôn thì các triều thần cũng sẽ buôn, họ sẽ tham lam hơn, bất công hơn ta. Dân chúng tin vào tính công bằng của ta chứ không tin vào sự giàu có của ta đâu. Thuế đánh vào dân quá nặng làm cho dân nghèo đói, đó là điều chắc chắn đưa chúng ta đến chỗ suy vong".