Để bảo vệ hạnh phúc gia đình, duy trì mối quan hệ vợ chồng bền vững thì tình cảm vợ chồng phải chân thành, xuất phát từ ý chí của các bên. Trong đó thì yếu tố cơ bản phải có là ý thứ trách giữa hai bên vợ và chồng sẽ giúp cho mối quan hệ giữa hai người được duy trì một cách bền vững nhất. Ngày nay với sự phát triển của xã hội địa vị ủa người phụ nữ không chỉ trong gia đình mà ngoài xã hội ngày càng được đề cao. Vì thế người chồng cần phải có sự chia sẻ, cảm thông những công việc của vợ. Để từ đó tạo điều kiện để người vợ có thể tham gia các hoạt động xã hội nhiều hơn.

Để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới, vợ và chồng không phân biệt địa vị, công việc của nhau, đồng lòng trong mọi công việc để xây dựng và duy trì hạnh phúc gia đình. Chính vì vậy, nhận thấy sự quan trọng trong quan hệ hôn nhân là Quyền và nghĩa vụ nhân thân của vơ và chồng Bộ luật hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể như sau: 

1. Bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng. 

Đối với quan hệ giữa vợ và chồng thì bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ và chồng chính là thước đo của sự phát triển xã hội, giá trị nhân văn của gia đình ngày nay. Theo đó quyenf bình đẳng giữa vợ và chồng được quy định tại Điều 17 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

" Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vu của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan."

Do vậy để có thể bảo vẹ quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình cần phải có sự nỗ lực từ cả hai bên vợ và chồng. Việc thực hiện quyền bình đẳng được thể hiện trong mọi khía cạnh của đời sống như việc: chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái, các nhu cầu cá nhân như giải trí hay học tập cũng như tham gia các hoạt động xã hội, tham gia quyết định các công việc trong gia đình, tôn trọng các quyết định của đối phương trong đời sống hôn nhân sẽ góp phần xây dựng mối quan hệ vợ và chồng được bình đẳng và hanh phúc hơn. 

Dù luật đã quy định rõ về việc bình đẳng trong hôn nhân và gia đình nhưng cũng không tránh khỏi những xung đột do sự tác động từ những thành viên khác trong gia đình như cha, mẹ...hay những chuẩn mực về truyền thống và hiện đại. Chính vì thế đôi khi việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ chồng lại trở nên cứng nhắc hơn và bị ảnh hưởng. Đặc thù của quan hẹ vợ và chồng là xuất phát từ tình yêu, cảm xúc, mong muốn...giữa các bên nên việc thưc hiện sự bình đẳng cân phải được linh hoạt, dựa trên năng lực của vợ và chồng. Có như vậy thì bình đẳng mới được thưc hiện một cách tự giác và bền vững trong gia đình. 

2. Bảo vệ quyền, nghĩa vụ nhân thân của vợ và chồng. 

Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh các nhóm quan hê xã hội là quan hệ nhân thân và tài sản  phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, trong đó có quan hệ giữa vợ và chồng. Một trong những quan hệ đó là quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được quy định trong Điều 18 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau: " Quyền, nghĩa vu nhân thân của vợ, chồng được quy định tại luật này. Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bả vệ."

Theo quy định của pháp luật hiện hành, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng và cùng chia sẻ với nhau về các công việc trong cuộc sống, công việc của gia đình. Bên cạnh đó thì vợ chồng có các quyền tự do lựa chọn nghề nghệp, iệc làm, tham gia các công tác xã hội, có quyền học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, quyền được lưa chọn nơi ở, lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín. Vợ chồng bình đẳng trong mối quan hệ với con chung. Như vậy ngoài việc xác lập quan hệ hôn nhân thì vợ và chồng phải đối xử bình đẳng thì vợ và chồng cần phải tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân của nhau. 

3. Tình nghĩa vợ chồng

Tình nghĩa giữa vợ và chồng là tình cảm xuất phát từ hai phía, tình cảm đó thủy chung hợp với lẽ phải, đạo lý làm người và không trái với đạo làm vợ, chồng. Tình nghĩa vợ và chồng được Luật hôn nhân gia đình quy định tại điều 19 như sau:

" -  Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

- Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác."

Vì vậy để cuộc sống hôn nhân gia đình có thể phát triển bền vững thì tình cảm giữa vợ và chồng ngoài xuất phát từ tình cảm giữa hai người mà còn phải tuân theo các quy định của pháp luật để cùng xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ và bền vững.

4. Lựa chọn nơi cứ trú của vợ chồng.

Nơi cư trú của vợ và chồng là nơi nơi vợ à chồng đã kết hôn sống tại một khu vực nào đó, có đăng ký thường trú giữa vợ và chồng. Trong Luật hôn nhâ bgia đình có quy định về nơi cư trú giữa vợ và chồng tại Điều 20 Luật hôn nhân gia đình như sau:

" Việc lựa chọn nơi cứ trú của vợ và chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính." 

Vì vậy nơi cư trú của vợ, chồng là nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống. Vợ chồng có thể thỏa thuận để có nơi cư trú khác nhau nưng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Theo đó nếu hai vợ chồng có sự thỏa thuận thì có thể có nơi cư trú hay hộ khẩu ở hai nơi khác nhau.

Dựa trên quy định đưa ra tại điều 20 Luật hôn nhân gia đình có thể thấy pháp luật cho phép vợ được nhập hộ khảu vào nhà chồng nếu có nhu cầu mà không phải quy định bắt buộc. Trường hợp không nhập hộ khẩu vào nhà chồng thì cùng không bị coi là hành vi vi phạm và như vậy sẽ không phải chịu chế tài xử phạt.

Như vậy ta thấy rằng, sau khi quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ được xác lập thì họ có thể đăng ký với cơ quan có thẩm quyền thì thông thường, vợ và chồng phải có nghĩa vụ  bătchung sống với nhau. Nhưng đây cũng không phải là quy định bắt buộc. Vì vậy nếu như hai vợ chồng có thỏa thuận với nhau thì họ có thể ở hai nơi khác nhau.

5. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng. 

Khi tham gia quan hệ hôn nhân gia đình thì hai bên đã chấp nhận tuân theo các nguyên tắc về quan hệ giữa vọ và chồng trong đơi sống xã hội nói chung và những quy định của luật hôn nhân và gia đình nói riêng, do đó giữa hai bên phải có sự tôn trọng danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau. Danh dự, nhân phâm, uy tín của mỗi người được pháp luật dân sự quy định, hình sự bảo vệ vid vậy nếu một trong các bên vi phạm thì tùy vào mức độ sẽ bị xử phat. Quy định của luật hôn nhân gia đình trước tiên phải để các chủ thể ý thức về thái độ, cách cư xử của mình nhằm mục đích xây dựng một gia đình ấm no và hạnh phúc, phát triển bền vững.

Tôn trọng danh đự, nhân phẩm, uy tín của vợ và chồng đươc Luật hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 21 như sau:

" Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, gìn giữ bảo vê danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau."

6. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ và chồng.

Theo điều 22 Luât hôn nhân và gia đình có quy định về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ và chồng như sau: " Vợ, chồng có quyền tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau."

Theo Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định" Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào... 

Hay theo Điều 6 Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định các chủ thể được hưởng thụ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:

" 1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

   2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, thực hành lê nghi tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập, thực hành giáo lý, luật tôn giáo.

   3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

    4. Chức sắc, chiện các lhức việc, nhà tu hành có quyền thực ễ nghi tô giáo, giảng đạo, truyền đạo tai cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác....

Tù các quy định của Luật thì sau khi kết hôn, vợ hoặc chồng có quyền tự do tôn giáo mà không bị ép buộc theo hoặc không theo từ phía bên chồng hoặc vợ. 

7. Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội.

Theo điều 23 thì quyền, nghĩa vụ học tập, làm việc, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội được quy định như sau: 

" Vợ, chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa."

Đây là những quyên cơ bản của mỗi cá nhân trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân. Tuy nhiên khi chưa kết hôn thì chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc quyết định những mục đích, lựa chọn của mình, nhưng khi đã có gia đình thì sự ràng buộc về trách nhiệm, công việc và cuộc sống hàng ngày trong gia đình có thể bị chi phối bởi các thành viên khác. Mọi sự lựa chọn đều phải có sự ủng hộ đến từ người than trong gia đình còn lại. Vì thế vợ và chồng cần phải chia sẻ, quan tâm đến đời sống của vợ hoặc chồng mình để tạo điều kiện cho họ tham gia học tập, làm việc, và tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội.