1. Quỹ đầu tư phát triển địa phương là gì?

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư (Nghị định số 147),  có hiệu lực thi hành từ ngày 05/02/2021, quy định: “Quỹ đầu tư là Quỹ đầu tư tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (UBND cấp tỉnh) thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chức năng cho vay và đầu tư tại địa phương theo quy định tại Nghị định này. UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với Quỹ”. Quy định này về Quỹ đầu tư là khá rõ ràng và tương thích hơn với Luật Ngân sách nhà nước năm 2015. Theo đó, khoản 19 Điều 14 Luật quy định: "Quỹ đầu tư tài chính nhà nước ngoài ngân sách là Quỹ đầu tư do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của Quỹ đầu tư để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật”.

Quỹ đầu tư phát triển địa phương (sau đây gọi tắt là Quỹ) là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chức năng cho vay và đầu tư tại địa phương theo quy định. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với Quỹ.

Quỹ đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Vốn chủ sở hữu của Quỹ đầu tư phát triển địa phương bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu cấp; Quỹ đầu tư phát triển; các nguồn vốn khác của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

2. Nguyên tắc và phạm vi hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương theo Điều 4 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP:

- Tự chủ về tài chính, không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước.

- Chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ.

- Thực hiện cho vay, đầu tư đúng đối tượng và điều kiện theo quy định.

Phạm vi hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương gồm: Huy động vốn trung, dài hạn từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Nghị định số 147/2020/NĐ-CP và pháp luật có liên quan; cho vay các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay của Quỹ; đầu tư các dự án, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay của Quỹ; ủy thác cho vay, đầu tư; nhận ủy thác quản lý các quỹ tài chính nhà nước tại địa phương, các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; thực hiện nghiệp vụ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.

03 điều kiện thành lập mới Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Quỹ đầu tư phát triển địa phương khi thành lập cần đáp ứng các điều kiện tại Điều 6 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP như sau:

1. Có vốn điều lệ thực có tại thời điểm thành lập không thấp hơn 300 tỷ đồng.

2. Có đề án thành lập Quỹ đầu tư phát triển địa phương được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.

3. Có dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương phù hợp với quy định tại Điều 8 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP.

Ngoài ra, cơ cấu tổ chức của Quỹ đầu tư phát triển địa phương gồm có: Hội đồng quản lý; Ban Kiểm soát; Ban điều hành (gồm: Giám đốc Quỹ, các Phó Giám đốc Quỹ, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc). Thẩm quyền quyết định việc quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với người quản lý Quỹ theo quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP và Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ.

3. Điều kiện thành lập và giải thể

Theo quy định của Nghị định số 147, mức vốn điều lệ tối thiểu để thành lập Quỹ đầu tư không thấp hơn 300 tỷ đồng (theo các quy định trước đây, vốn điều lệ chỉ cần tối thiểu 100 tỷ đồng). Trường hợp không đáp ứng yêu cầu về vốn, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Nghị định số 147 có hiệu lực, Quỹ đầu tư sẽ bị giải thể.

Điều 43 Nghị định số 147/2020/NĐ-CP còn quy định các trường hợp giải thể Quỹ đầu tư. Theo đó, một Quỹ đầu tư không đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ, hoặc bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ và có tỷ lệ giá trị dư nợ cho vay và đầu tư (không bao gồm các khoản nhận ủy thác cho vay) trên vốn chủ sở hữu thấp hơn 20% trong 05 năm liên tiếp, hoặc có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay cao hơn 50% hoặc tỷ lệ các khoản nợ phải thu khó đòi trên tổng số vốn đầu tư cao hơn 80% và lũy kế chênh lệch thu - chi âm lớn hơn hoặc bằng 75% số vốn điều lệ thực có của Quỹ đầu tư trong 05 năm liên tiếp, hoặc các trường hợp Quỹ đầu tư hoạt động không hiệu quả hoặc không cần thiết phải duy trì Quỹ đầu tư theo đánh giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đều có khả năng bị giải thể. Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của Quỹ đầu tư và của địa phương có Quỹ đầu tư đang hoạt động. Tuy nhiên, quy định trên chỉ nêu các trường hợp giải thể một Quỹ đầu tư mà chưa có biện pháp can thiệp sớm nhằm khôi phục các Quỹ đầu tư trước nguy cơ bị giải thể. Nếu so sánh với Luật Các tổ chức tín dụng thì một tổ chức tín dụng có khả năng được áp dụng biện pháp can thiệp sớm hoặc kiểm soát đặc biệt trước khi thực hiện thủ tục phá sản.

4. Tổ chức bộ máy quản lý và điều hành

So sánh với Nghị định số 138 và Nghị định số 37 thì cơ cấu tổ chức của Quỹ đầu tư không có sự thay đổi. Cụ thể, cơ cấu tổ chức của Quỹ đầu tư gồm có Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành. Trong đó, Ban quản lý điều hành bao gồm Giám đốc Quỹ, các Phó Giám đốc Quỹ, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc. Nghị định số 147 quy định chi tiết, Giám đốc Quỹ đầu tư có thể kiêm Phó Chủ tịch hoặc thành viên Hội đồng quản lý Quỹ. Quy định này kế thừa Thông tư số 42/2014/TT-BTC ngày 08/04/2014 của Bộ Tài chính ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các Quỹ đầu tư (Thông tư số 42). Ngoài ra, trừ Giám đốc Quỹ đầu tư có thể kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý hoặc thành viên Hội đồng quản lý thì các thành viên khác của Hội đồng quản lý không được kiêm nhiệm bất kỳ chức vụ quản lý khác tại Quỹ đầu tư.

Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 147 quy định, Giám đốc Quỹ đầu tư do UBND cấp tỉnh quyết định việc quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu. Tuy nhiên, Nghị địnhđể ngỏ việc bổ nhiệm chức danh Phó Giám đốc và Kế toán trưởng Quỹ đầu tư. Theo quy định của Nghị định số 138, Phó Giám đốc và Kế toán trưởng Quỹ đầu tư do Giám đốc Quỹ đầu tư đề nghị Hội đồng quản lý xem xét, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm; việc quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với chức danh Trưởng ban kiểm soát cũng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

5. Hoạt động của quỹ đầu tư phát triển địa phương

Danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay: Theo quy định của Nghị định số 147, căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm, tình hình thực tế của địa phương và quy mô hoạt động của Quỹ đầu tư, hàng năm hoặc trong từng thời kỳ, Quỹ đầu tư đề xuất danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, bao gồm: giáo dục, y tế, công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, môi trường, năng lượng, nhà ở, văn hóa, du lịch, giao thông, các lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa và các lĩnh vực ưu tiên phát triển khác theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quy định này đã tạo thế tự chủ cho các Quỹ đầu tư được đề xuất các danh mục lĩnh vực đầu tư phù hợp với đặc thù địa phương.

Trên cơ sở danh mục lĩnh vực đầu tư do Quỹ đầu tư đề xuất, UBND cấp tỉnh rà soát, báo cáo Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh về danh mục này. HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định, xem xét và ban hành nghị quyết thông qua danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay của Quỹ đầu tư. Căn cứ nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay của Quỹ đầu tư. Quy trình được thực hiện tương tự trong trường hợp có bổ sung hoặc điều chỉnh danh mục.

Huy động vốn: Hoạt động huy động vốn được kế thừa khá tương tự từ các quy định trước đây. Quỹ đầu tư được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn bằng các hình thức như vay các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật (việc vay vốn nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về vay nợ nước ngoài), phát hành trái phiếu Quỹ đầu tư và các hình thức huy động vốn trung và dài hạn khác theo quy định của pháp luật. khoản 3 Điều 36 Nghị định số 147 quy định giới hạn huy động vốn tối đa bằng 06 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ đầu tư được ghi trên báo cáo tài chính năm hoặc báo cáo tài chính bán niên tại thời điểm gần nhất. Quy định này được xem là rõ ràng vì căn cứ năng lực tài chính của Quỹ đầu tư mà tổ chức này được huy động nguốn vốn nhằm nâng cao nguồn vốn hoạt động.

Bên cạnh đó, Nghi định số 147 quy định khá chi tiết và rõ ràng các điều kiện được huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Quỹ đầu tư. Nguyên tắc của việc phát hành trái phiếu là Quỹ đầu tư tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ. Điều kiện để được phát hành trái phiếu phải bao gồm việc Quỹ đầu tư có thời gian hoạt động tối thiểu từ 01 năm kể từ ngày UBND cấp tỉnh ban hành Quyết định thành lập Quỹ đầu tư; Quỹ đầu tư được UBND cấp tỉnh đánh giá xếp loại hoạt động có hiệu quả năm trước liền kề của năm phát hành theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Tài chính; Quỹ đầu tư phải đảm bảo tuân thủ quy định về nhà đầu tư mua và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ theo quy định của pháp luật về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ; Quỹ đầu tư phải có phương án phát hành trái phiếu riêng lẻ được UBND cấp tỉnh phê duyệt, trong đó nêu cụ thể về mục đích sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu và nguồn bố trí trả nợ gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn; Quỹ đầu tư phải thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (nếu có), trừ trường hợp phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn; và Quỹ đầu tư đáp ứng các giới hạn đầu tư, cho vay, huy động vốn theo quy định tại Nghị định số 147.

Về hoạt động cho vay: Quỹ đầu tư phát triển địa phương khi cho vay phải đảm bảo các điều kiện cho vay sau đây: Chủ đầu tư thuộc đối tượng cho vay quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định này; dự án vay vốn được Quỹ đầu tư phát triển địa phương thẩm định, đánh giá là dự án có hiệu quả, chủ đầu tư có khả năng trả được nợ vay; dự án vay vốn tuân thủ quy định của pháp luật đầu tư; chủ đầu tư mua bảo hiểm tài sản tại một doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản bảo đảm tiền vay thuộc đối tượng bắt buộc mua bảo hiểm.

Thời hạn cho vay phụ thuộc vào từng dự án trên cơ sở kết quả thẩm định, khả năng thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của chủ đầu tư nhưng tối đa là 15 năm. Trường hợp cho vay vượt quá thời hạn cho vay tối đa, Quỹ đầu tư phát triển địa phương thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

Về hoạt động nhận ủy thác và ủy thác: Quỹ đầu tư phát triển địa phương được nhận ủy thác quản lý nguồn vốn đầu tư; cho vay và thu hồi nợ; cấp phát vốn đầu tư cho các công trình, dự án từ ngân sách nhà nước, từ các ngân hàng chính sách, từ các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nhận ủy thác quản lý nguồn vốn, hoạt động của các quỹ tài chính nhà nước tại địa phương. Đồng thời, Quỹ đầu tư phát triển địa phương được ủy thác hoạt động nghiệp vụ cho các tổ chức tín dụng và các ngân hàng chính sách thực hiện. Việc ủy thác phải được thực hiện bằng văn bản ủy thác giữa Quỹ với tổ chức nhận ủy thác.