1.Quy định về việc xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng

Trong trường hợp vợ hoặc chồng đồng sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự ý cầm cố, thế chấp cho người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật Hôn nhân và gia đình thì giao dịch đó vô hiệu (trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi).

Việc thế chấp nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền thế chấp tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ỏ cho vợ chồng.

Việc vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu hoặc là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch cầm cố, thế chấp tài sản đó với người thứ ba ngay tình.

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định về việc xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng như sau:

Các trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nưốc ngoài, chứng khoán hoặc động sản khác theo quy định của pháp luật không phải đăng ký thì vợ hoặc chồng đứng tên người gửi tiền, chứng khoán hoặc đang chiếm hữu động sản được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm, trừ trường hợp sau đây:

- Chế độ tài sản theo thỏa thuận có quy định khác hoặc vợ chồng có thỏa thuận khác và bên nhận bảo đảm đã được cung cấp thông tin về quy định này hoặc về thỏa thuận này;

- Vợ chồng và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận khác;

Các trường hợp vợ chồng thỏa thuận về việc một bên dùng tài sản chung để góp vốn vào pháp nhân thương mại, pháp nhân phi thương mại là doanh nghiệp xã hội hoặc để thành lập doanh nghiệp tư nhân thì người góp vốn, người đứng tên chủ doanh nghiệp tư nhân được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện phốp bảo đảm liên quan đến phần vốn góp trong pháp nhân, tài sản thuộc doanh nghiệp tư nhân. Trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận bằng văn bản về việc dùng tài sản chung để góp vốn, nhưng việc góp vốn đã được thực hiện theo đúng thủ tục được quy định trong pháp luật liên quan mà người không trực tiếp kinh doanh biết hoặc phải biết về việc góp vốn nhưng không phản đối thì coi như đã có thỏa thuận;

Trường hợp được xác lập theo 2 trường hợp trên mà vợ chồng ly hôn thì người đã xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm đã được xác lập, trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyết định khác.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nếu giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ
hoặc chồng thì giao dịch cầm cố, thế chấp tài sản này được thực hiện theo quy định vê' đại diện giữa vợ, chồng.

2.Xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng

1. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chứng khoán hoặc động sản khác theo quy định của pháp luật không phải đăng ký thì vợ hoặc chồng đứng tên người gửi tiền, chứng khoán hoặc đang chiếm hữu động sản được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm, trừ trường hợp sau đây:

a) Chế độ tài sản theo thỏa thuận có quy định khác hoặc vợ chồng có thỏa thuận khác và bên nhận bảo đảm đã được cung cấp thông tin về quy định này hoặc về thỏa thuận này;

b) Vợ chồng và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp vợ chồng thỏa thuận về việc một bên dùng tài sản chung để góp vốn vào pháp nhân thương mại, pháp nhân phi thương mại là doanh nghiệp xã hội hoặc để thành lập doanh nghiệp tư nhân thì người góp vốn, người đứng tên chủ doanh nghiệp tư nhân được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm liên quan đến phần vốn góp trong pháp nhân, tài sản thuộc doanh nghiệp tư nhân.

Trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận bằng văn bản về việc dùng tài sản chung để góp vốn theo quy định tại khoản này nhưng việc góp vốn đã được thực hiện theo đúng thủ tục được quy định trong pháp luật liên quan mà người không trực tiếp kinh doanh biết hoặc phải biết về việc góp vốn nhưng không phản đối thì coi như đã có thỏa thuận.

3. Trường hợp hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà vợ chồng ly hôn thì người đã xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm đã được xác lập, trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyết định khác.

3.Một số vấn đề về kiểm sát giải quyết tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn

Khi ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng được đặt ra như một tất yếu vì ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, chấm dứt cơ sở hình thành, phát triển của khối tài sản chung. Sẽ rất dễ dàng, tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí nếu các bên có thể tự thỏa thuận được với nhau để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, trên thực tế, đa số các trường hợp về phân chia tài sản chung đều xảy ra tranh chấp, các bên không thỏa thuận được nên khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Qua quá trình kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê nhận thấy tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn là một nội dung phức tạp trong hầu hết các vụ án “Ly hôn”, đòi hỏi phải thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện thì mới có thể giải quyết vụ án được chính xác, đặc biệt là các vụ án ly hôn có tài sản tranh chấp liên quan đến bất động sản, nợ ngân hàng, tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không thể xác định được. Khi giải quyết loại vụ việc này, các sai phạm của Tòa án chủ yếu liên quan đến vấn đề phân chia tỷ lệ tài sản chung, nguồn gốc hình thành, công sức đóng góp vào tài sản chung, ngoài ra, còn có các sai phạm liên quan đến xác định án phí khi phân chia tài sản chung, xác định những thành phần người tham gia tố tụng có liên quan để đưa vào giải quyết trong vụ án, vi phạm về thời hạn gửi Bản án, quyết định,…. Khó khăn lớn nhất trong phân chia tài sản chung khi ly hôn là việc vận dụng các nguyên tắc chia tài sản chung sao cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể, đảm bảo được quyền, lợi ích của vợ chồng và những người có liên quan. Việc đánh giá và quy đổi một vấn đề trừu tượng như công sức đóng góp thành một khối lượng tài sản cụ thể là hết sức khó khăn, còn phụ thuộc vào sự đánh giá, nhận thức pháp luật của Hội đồng xét xử.

4. Vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng" thuộc sở hữu chung của vợ chồng 

Sau đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” bị huỷ hợp đồng thế chấp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng nhưng chỉ có một ngưòi đứng tên sở hữu tài sản và ký hợp đồng thế chấp.

Ngày 09/01/2009, Công ty cổ phần đầu tư phát triển du lịch V vay của Ngân hàng N - Chi nhánh Thành Danh (tỉnh B) 2,2 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng 100 m2 đất và tài sản gắn liền vổi đất tại 346/11, phường 13, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đứng tên ông Lê Quang Đ, đã công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp.

Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm ngày 12/5/2011 của Toà án nhân dân tỉnh B đã buộc Công ty V trả nợ Ngân hàng hơn 2,5 tỷ đồng và xử lý tài sản thế chấp.

Bản án ngày 29/7/2011 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (nay là Toà án nhân dân cấp cao) tại Thành phô' Hồ Chí Minh đã hủy hợp đồng thế chấp, vì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chỉ đứng tên ông Đ, nhưng là tài sản chung của vợ chồng. Trong khi vợ ông Đ là bà Thái Phương L không biết việc ký kết và thực hiện Hợp đồng thế chấp.

Việc cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ tài sản chung của vợ chồng (sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia) do vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau, trừ trường hợp tài sản chung đã phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Toà án1.

Việc cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ tài sản riêng của vợ, chồng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì phải có sự đồng ý của vợ, chồng.

Nếu có thỏa thuận tài sản chung là tài sản riêng hoặc ngược lại, tài sản riêng là tài sản chung của vợ chồng để trốn tránh nghĩa vụ thì sẽ bị coi là vô hiệu. Thông tư liên tịch số Ol/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đã đưa ra ví dụ như sau: “Anh A và chị B trước khi kết hôn có lập văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong văn bản xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của anh A trước khi kết hôn (trên thực tê đã thế chấp cho Ngân hàng C) sẽ là tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn. Do đến hạn anh A không trả được nợ nên Ngân hàng c yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất nhưng anh A không đồng ý và cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng mà không phải tài sản riêng của anh. Ngân hàng c đã khởi kiện ra Toà án yêu cầu anh A trả nợ, yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng anh A và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của anh A. Trường hợp này Toà án phải xác định thỏa thuận xác lập chê độ tài sản của vợ chồng anh A bị vô hiệu vì vi phạm nghiêm trọng quyền của Ngân hàng c đôi với tài sản đã được anh A thê chấp”.

5.Kết luận vụ án 

Tóm lại, giao dịch dân sự nói chung, giao dịch bảo đảm nói riêng đối với tài sản của vợ chồng trên thực tế có thể gặp nhiều khó khăn, rắc rối và rủi ro pháp lý. Đặc biệt, nếu chỉ có một trong hai vợ chồng ký hợp đồng thế chấp tài sản là nhà ồ, dù có hoàn toàn tự nguyện thì hầu hết vẫn bị Toà án tuyên vô hiệu toàn bộ hợp đồng thay vì chỉ vô hiệu một phần. Đây là việc phủ nhận ý chí định đoạt đối với phần tài sản của chủ sở hữu, phủ nhận hợp đồng, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ mà chủ sở hữu đã tự nguyện cam kết, cho dù đã được công chứng, đăng ký thế chấp và gây rủi ro rất lớn cho bên nhận bảo đảm, mà phần lổn là các tổ chức tín dụng.

Một trong những ngoại lệ hiếm hoi là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A, thành phô" H với vợ chồng bà Lê Thị H và ông Huỳnh Hữu T, tại quận N, thành phô" c. Bản án ngày 08/3/2011 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (nay là Toà án nhân dân cấp cao) tại thành phô" H đã nhận định: nhà đất thê" chấp là tài sản chung của vỢ chồng bà Lê Thị H và ông Huỳnh Hữu T. Hợp đồng thê" chấp đã được công chứng ngày 22/8/2006, nhưng ông T không biết và không ký hợp đồng. Như vậy, bà H đã lừa
dốì Ngân hàng trong việc thế chấp tài sản. Tuy nhiên, Ngân hàng là bên bị lừa dôì đã không yêu cầu Toà án tuyên bố" giao dịch dân sự đó vô hiệu, nên hợp đồng tín dụng chỉ vô hiệu một phần. Vì vậy, buộc bà H phải thanh toán cho Ngân hàng 1,45 tỷ đồng nợ gốc và lãi; đồng thời, sử dụng 50% số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp để thanh toán cho Ngân hàng (số tiền còn lại được giao cho ông T sở hữu).